Khác biệt giữa các bản “Euripides”

không có tóm lược sửa đổi
n (Đã lùi lại sửa đổi của 27.67.180.188 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của TuanminhBot)
Thẻ: Lùi tất cả
}}
 
'''Euripides''' ({{lang-grc-gre|Εὐριπίδης}}) (khoảng 480 – 406 tr CN) là một trong ba nhà kịch vĩ đại của Athena thời [[Hy Lạp cổ điển]], cùng với [[Aeschylus]] và [[Sophocles]]. Một số học giả cổ đại quy 95 vở kịch cho ông nhưng theo ''[[Suda]]'' (cuốn bách khoa toàn thư [[Đế quốc Đông La Mã|Byzantine]] thế kỉ 10) cho là nhiều nhất chỉ có 92 vở. Trong số chúng, 18 hoặc 19 vở còn tồn tại nguyên vẹn (có những tranh cãi xung quanh tác giả vở ''[[Rhesus (kịch)|Rhesus]]'', chủ yếu do văn phong<ref>Walton (1997, viii, xix)</ref>) và cũng còn lại các đoạn, một số là đoạn chính, của hầu hết các vở còn lại. Việc nhiều vở kịch của ông còn tồn tại hơn của cả hai tác gia kia gộp lại, một phần do may mắn thuần túy và một phần bởi vì sự phổ biến của ông gia tăng còn của hai người kia giảm đi<ref>B. Knox,'Euripides' in ''The Cambridge History of Classical Literature I: Greek Literature'', P.Easterling and B.Knox (ed.s), Cambridge University Press (1985), page 316</ref><ref name="HM ix">Moses Hadas, ''Ten Plays by Euripides'', Bantam Classic (2006), Introduction, page ix</ref> - ông đã trở thành, trong thời kỳ [[Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa|Hy Lạp hóa]], một hòn đá tảng của nền giáo dục văn học cổ đại, cùng với [[Hómēros|Homer]], [[Demosthenes]] và [[Menander]]<ref name="PLPE lx">L.P.E.Parker, ''Euripides: Alcestis'', Oxford University Press (2007), Introduction page lx</ref>.
 
Euripides gắn với những cách tân trong sân khấu thứ đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngành kịch cho tới thời hiện đại, đặc biệt là trong cách thể hiện các anh hùng thần thoại, truyền thống như những người bình thường trong các hoàn cảnh phi thường. Cách tiếp cận này dẫn ông tới những tiến bộ tiên phong mà các nhà văn về sau tiếp nhận trong tân hài kịch (''nea'') ở thời đại Macedonia, một vài trong số đó đặc trưng cho văn học [[lãng mạn]] thời [[Trung Cổ]]. Tuy nhiên ông cũng trở thành "người bi đát nhất trong các nhà thơ"<ref group="nb">Tính ngữ "người bi đát nhất trong các nhà thơ" được đặt ra bởi Aristotle, hẳn trong liên hệ với một sự ưa chuộng được ghi nhận với các kết thúc không có hậu nhưng nó có ý nghĩa rộng hơn: "Đối với trong cách diễn đạt những khổ đau của con người Euripides đặt những giới hạn lên những gì một công chúng có thể chịu đựng; một vài cảnh của ông hầu như không thể chịu nổi."B. Knox,'Euripides' trong ''The Cambridge History of Classical Literature I: Greek Literature'', P.Easterling and B.Knox (ed.s), Cambridge University Press (1985), page 339</ref>, tập trung vào đời sống và những động lực nội tập của nhân vật của ông theo cách chưa từng được biết tới.<ref name="HM xviii-xix">Moses Hadas, ''Ten Plays by Euripides'', Bantam Classic (2006), Introduction, pages xviii-xix</ref><ref>A.S. Owen, ''Euripides: Ion'', Bristol Classical Press (1990), Introduction page vii</ref> Ông là người sáng tạo của "khuôn khổ mà là sân khấu của [[Othello]] của [[William Shakespeare|Shakespeare]], [[Phèdre]] của [[Racine]], của [[Ibsen]] và[[Strindberg]]", trong đó "...những người đàn ông và đàn bà bị giam hãm hủy diệt lẫn nhau bởi cường độ tình yêu và thù hận của họ",<ref>B.M.Knox, 'Euripides' in ''The Cambridge History of Classical Literature I: Greek Literature'', P.Easterling and B.Knox (ed.s), Cambridge University Press (1985), page 329)</ref> và thêm nữa ông là ông tổ văn chương của các nhà hài kịch từ Menander tới [[George Bernard Shaw]]<ref>Moses Hadas, ''Ten Plays by Euripides'', Bantam Classic (2006), Introduction, pages viii-ix</ref>.
80

lần sửa đổi