Mở trình đơn chính

Các thay đổi

không có tóm lược sửa đổi
| chồng = [[Hán Quang Vũ Đế]]
| thông tin con cái = ẩn
| con cái = [[Hán Minh Đế]] Lưu Trang<br>Đông Bình Hiến vương [[Lưu Thương]]<br>Quảng Lăng Tư vương [[Lưu Kinh]]<br>Lâm Hoài Hoài công [[Lưu Hành]]<br>Lang DaTà Hiếu vương [[Lưu Kinh]]
| tước hiệu = Quý nhân<br>Hoàng hậu<br>Hoàng thái hậu
| thụy hiệu = <font color="grey">Quang Liệt hoàng hậu</font><br>(光烈皇后)
Cũng trong năm này, Chân Định vương Lưu Dương dường như bất bình trước việc chậm chạp lập Hậu của Lưu Tú, đã quyết định nổi loạn, sau đó bị giết. Ấn lẽ thường, Quách hậu cùng gia tộc họ Quách sẽ bị liên lụy, thế nhưng vào lúc này nhà Đông Hán không ổn định, Lưu Tú cũng không thể tùy tiện đưa ra quyết định tận diệt, do đó vẫn hết sức thiện đãi Quách hậu<ref>《后汉书·耿纯传》时真定王刘扬复造作谶记云:“赤九之后,瘿扬为主。”扬病瘿,欲以惑众,与绵曼贼交通。建武二年春,遣骑都尉陈副、游击将军邓隆征扬,扬闭城门,不内副等。乃复遣纯持节,行赦令于幽、冀,所过并使劳慰王侯。密来纯曰:“刘扬若见,因而收之。”纯从吏士百余骑与副、隆会元氏,俱至真定,止传舍。扬称病不谒,以纯真定宗室之出,遣使与纯书,欲相见。纯报曰:“奉使见王侯牧守,不得先诣,如欲面会,宜出传舍。”时扬弟临邑侯让及从兄细各拥兵万余人,扬自恃众强而纯意安静,即从官属诣之,兄弟并将轻兵在门外。扬入见纯,纯接以礼敬,因延请其兄弟,皆入,乃闭郃悉诛之,因勒兵而出。真定震怖,无敢动者。</ref><ref>《后汉书·光武帝纪》:(建武二年正月)真定王杨、临邑侯让谋反,遣前将军耿纯诛之。</ref>.
 
Năm Kiến Vũ thứ 4 ([[28]]), [[tháng 5]], ngày [[Giáp Thân]], Âm Quý nhân hạ sinh hoàng tử đầu tiên của mình là [[Hán Minh Đế|Lưu Dương]] tại huyện [[Nguyên Thị]]<ref>《东观汉纪·显宗孝明皇帝》建武四年五月甲申,皇子阳生</ref><ref>《后汉书·孝明帝纪》常山三老言于帝曰:“上生于元氏,愿蒙优复。”</ref>. Đây là một lần sinh nở khó hiểu, vì Âm Lệ Hoa khi đó đã mang thai, thế mà Lưu Tú vẫn kiên quyết đem bà đi theo hành quân, lại ở huyện thôn hẻo lánh hạ sinh Hoàng tử. Khi Lưu Dương vừa sinh, Lưu Tú vui lắm, đánh giá ngũ quan sáng ngời như Đế [[Nghiêu]] thời thượng cổ, lại lấy biểu tượng màu đỏ của ánh dương đặt tên Hoàng tử là ''"Dương"'', biểu thị sự coi trọng cùng yêu thích của Lưu Tú đối với đứa con này của Âm Lệ Hoa<ref>《后汉书·光武帝纪》壬子,起高庙,建社稷于洛阳,立郊兆于城南,始正火德,色尚赤。</ref><ref>《东观汉记·卷二·纪二·显宗孝明皇帝》丰下锐上,颜赤色,有似于尧,上以赤色名之曰阳。</ref>. Sau khi sinh ra Lưu Dương, Âm Lệ Hoa ngày càng được thịnh sủng<ref>《后汉纪》及后生东海王阳,而宠益盛。</ref>, sau đó liên tiếp sinh ra thêm 4 người con khác là Đông Bình Hiến vương [[Lưu Thương]], Quảng Lăng Tư vương [[Lưu Kinh]], Lâm Hoài Hoài công [[Lưu Hành]] và Lang Tà Hiếu vương [[Lưu Kinh (Lang Tà Hiếu vương)|Lưu Kinh]]<ref>《后汉书·光武十王列传》光烈皇后生显宗、东平宪王苍、广陵思王荆、临淮怀公衡、琅邪孝王京</ref>.
 
Năm Kiến Vũ thứ 9 ([[33]]), Đặng phu nhân và [[Âm Hân]] bị đạo phỉ sát hại. Quang Vũ Đế đã rất thương tiếc họ, và ông đã phong tước hầu cho Âm Tựu và cũng cố phong tước hầu cho Âm Hưng, song Âm Hưng đã khiêm tốn từ chối và còn bảo Âm quý nhân phải luôn khiêm tốn và không tìm kiếm danh vọng cho người thân của bà. Tuy chỉ là Quý nhân nhưng Quang Vũ Đế vẫn tình cảm mặn nồng với bà. Sau bà hạ sinh tổng cộng năm hoàng tử, bằng với số hoàng tử do Quách hậu sinh.
 
=== Tấn lập Hoàng hậu ===
Năm Kiến Vũ thứ 17 ([[41]]), Quang Vũ Đế phế truất Quách hậu và đưa Âm quýQuý nhân lên thay.
 
Thay vì tống giam vào lãnh cung như các Hoàng hậu bị phế truất khác, Quang Vũ Đế đã lập con trai [[Lưu Phụ]] của Quách Thánh Thông làm ''Trung Sơn vương'', và lập bà làm ''Trung Sơn vương thái hậu''. Quang Vũ Đế cũng phong đệ đệ của Quách Thánh Thông là [[Quách Huống]] (郭況) một chức quan quan trọng và đã ban cho Quách Huống nhiều của cải. Không nỡ lòng nào phế truất cả mẹ lẫn con, Quang Vũ Đế ban đầu vẫn để Lưu Cương làm Hoàng thái tử. Tuy nhiên, vị hoàng thái tử này nhận thấy địa vị của mình không chắc chắn nên đã nhiều lần thỉnh cầu được từ bỏ ngôi vị.
== Hậu duệ ==
Quang Liệt hoàng hậu Âm Lệ Hoa có tổng cộng 5 người con với [[Hán Quang Vũ Đế]] Lưu Tú, tất cả đều là hoàng tử. Bao gồm:
# [[Hán Minh Đế]] Lưu Trang, con thứ tư của Hán Quang Vũ Đế. Tên cũ '''Lưu Dương''' [劉暘].
# [[Lưu Thương]] ([刘苍)], con thứ sáu của Hán Quang Vũ Đế, tướcthụy '''Đông Bình Hiến vương''' (东平宪王), mất năm Kiến Sơn thứ 8 ([[83]]) thời [[Hán Chương Đế]]. Trước khi Âm hậu trở thành Kế hậu, ông được phong ''"Đông Bình công"'' (东平公). Trong lịch sử Đông Hán, ông nổi tiếng là một người hay văn thơ, phụ chính thời Hán Minh Đế và vị trí còn trên cả [[Tam công]]. Sau vì lo sợ mà quay về đất phong Đông Bình, rút khỏi chính trường.
# [[Lưu Kinh]] ([劉荊)], con thứ 8 của Hán Quang Vũ Đế, thụy '''Quảng Lăng Tư vương''' (广陵思王). Năm Kiến Vũ thứ 15 ([[39]]), sắc phong tước ''"Sơn Dương công"'' (山阳公), sau khi Âm hậu lên ngôi cải thành ''"Sơn Dương vương"'' (山阳王). Luôn đối đầu với anh trai Hán Minh Đế, ngay sau khi Quang Vũ Đế băng thì mật mưu với [[Quách Huống]] tính bề mưu phản, sau bị bại lộ và bị đày đi Hà Nam cung. Sau này Hán Minh Đế cải phong nước Quảng Lăng, tước ''"Quảng Lăng vương"'' (广陵王), phái đến ở đấy nhưng Lưu Kinh vẫn chống đối tạo phản, việc bị lộ, cho tự sát. Mất năm Vĩnh Bình thứ 10 ([[67]]), thụy là ''Tư'' (思).
# [[Lưu Hành]] ([刘衡)], con thứ 9 của Hán Quang Vũ Đế, tướcthụy '''Lâm Hoài Hoài công''' (临淮怀公), mất năm Kiến Vũ thứ 17 ([[41]]).
# [[Lưu Kinh (Lang Tà Hiếu vương)|Lưu Kinh]] ([刘京)], con thứ 11 của Hán Quang Vũ Đế, tướcthụy '''Lang Tà Hiếu vương''' (琅邪孝王), mất năm Kiến Sơ thứ 6 ([[81]]). Năm Kiến Vũ thứ 15, sắc phong ''"Lang Tà công"'' (琅邪公), sau khi Âm hậu lên ngôi vị mới cải phong tước Vương. Ông nổi tiếng có tính hiếu, lại ham học.
 
== Trong văn hóa đại chúng ==