Mở trình đơn chính

Các thay đổi

không có tóm lược sửa đổi
| thông tin con cái = ẩn
| con cái = [[Hán Minh Đế]] Lưu Trang<br>Đông Bình Hiến vương [[Lưu Thương]]<br>Quảng Lăng Tư vương [[Lưu Kinh]]<br>Lâm Hoài Hoài công [[Lưu Hành]]<br>Lang Tà Hiếu vương [[Lưu Kinh]]
| tước hiệu = [Quý nhân; 貴人]<br>[Hoàng hậu; 皇后]<br>[Hoàng thái hậu; 皇太后]
| thụy hiệu = <font color="grey">Quang Liệt hoàng hậu</font><br>(光烈皇后)
| hoàng tộc = [[Nhà Hán|Nhà Đông Hán]]
| cha = [[Âm Lục]]
| mẹ = Đặng phu nhân
| sinh = [[5]]<br>Hán Bình Đế Nguyên Trị năm thứ 5
| nơi sinh = [[Tân Dã]], [[Nam Dương]]
| mất = 3 tháng 1, {{năm mất và tuổi|64|5}}<br>Hán Minh Đế Vĩnh Bình năm thứ 7
| nơi mất = [[Lạc Dương]]
| ngày an táng =
| nơi an táng = [[Nguyên lăng]] (原陵)
}}
'''Âm Lệ Hoa''' ([[Phồn thể]]: 陰麗華; [[giản thể]]: 阴丽华; [[5]] - [[3 tháng 1]], [[64]]), thường được gọi là '''Quang Liệt Âm hoàng hậu''' (光烈陰皇后), là [[Hoàng hậu]] thứ hai của [[Hán Quang Vũ Đế]] Lưu Tú, mặc dù bà kết hôn với ông trước Hoàng hậu đầu tiên là [[Quách Thánh Thông]].
 
Bà nổi tiếng với giai thoại là hồng nhan tri kỷ của Quang Vũ Đế Lưu Tú. [[Thụy hiệu]] của bà khởi đầu cho một xu hướng trong thời gian còn lại của triều Đông Hán và tiếp đến tận thời [[nhà Tùy]], đó là thụy hiệu của một Hoàng hậu không phải đặt hoàn toàn theo thụy hiệu của phu quân họ như thời Tây Hán, mà đặt một phần theo thụy hiệu của phu quân và thêm một chữ mang tính diễn tả.
== Cuộc đời ==
=== Thân thế ===
Quang Liệt hoàng hậu Âm Lệ Hoa sinh trưởngnăm Nguyên Trị thứ 5 ([[5]]) thời [[Hán Bình Đế]], quê quán tại huyện [[Tân Dã]], quận [[Nam Dương]] (gần tương ứng với [[Nam Dương, Hà Nam|Nam Dương]], [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]] ngày nay). Theo ''[[Hậu Hán thư]]'', nhà họ Âm có nguồn gốc từ hạ khanh [[Quản Trọng]] trứ danh của [[nước Tề]] trong thời [[Xuân Thu]]. Đến đời thứ 7 là [[Quản Tu]] (管修), gia đình từ nước Tề sang cư ngụ nước Sở, được phong làm ''Âm đại phu'' (陰大夫), từ đấy lấy "''Âm"'' làm họ. Vào thời đầu nhà Hán, nhà họ Âm mới chuyển đến Tân Dã, là một danh gia vọng tộc lâu đời, được ban chức ''Bang quân'' (邦君) như đối với một chư hầu vương, cho thấy vị thế rất lớn của nhà họ Âm tại địa phương<ref>《后汉书·樊宏阴识列传第二十二 》初,阴氏世奉管仲之祀,谓为“相君”。</ref><ref>《后汉书·樊宏阴识列传第二十二 》自是已后,暴至巨富,田有七百余顷,舆马仆隶,比于邦君。</ref>. Dẫu vậy, nhà họ Âm suốt các đời Tần và Tây Hán cũng không có ai ra làm quan, nên ảnh hưởng chính tri của họ Âm khi đó là không có, chỉ có phú quý vinh hiển tại quê nhà mà thôi.
 
Cha của Âm Lệ Hoa là [[Âm Lục]] (陰陸), mẹ của bà là [[Đặng phu nhân]] (鄧夫人)<ref>《後漢書·皇后紀上·光烈陰皇后》:「九年,有盜劫殺後母鄧氏及弟」。</ref>, cũng là dòng họ quyền thế ở Nam Dương. Bà có ít nhất bốn người em: [[Âm Hưng]] (陰興), [[Âm Tựu]] (陰就), [[Âm Thức]] (陰識) và [[Âm Hân]] (陰訢), trong đó Âm Hưng và Âm Hân là bào đệ đồng mẫu với bà, còn Âm Thức do vị phu nhân trước của cha bà sinh ra. Gia đình bà có mối giao hảo rất tốt với dòng họ Đặng của [[Đặng Vũ]], về sau cũng là gia thần có công của chồng bà Lưu Tú. Chị của bà Âm thị là vợ [[Đặng Nhượng]]<ref>《東觀記》曰:「讓夫人,光烈皇后姊也」。</ref>, còn mẹ bà Đặng phu nhân xuất thân trong gia tộc họ Đặng. Hòa Hi hoàng hậu [[Đặng Tuy]], vợ của cháu cố bà là [[Hán Hòa Đế]] có mẹ là Âm thị, là con gái của đường đệ của Âm Lệ Hoa.
Năm Vĩnh Bình thứ 3 ([[60]]), với sự tán thành của Âm hoàng thái hậu, Minh Đế đã lập Mã quý nhân - tiểu thư của [[Mã Viện]] - làm hoàng hậu. Mã hoàng hậu là người được Âm hoàng thái hậu yêu mến do có tính tình nhu mì và không ghen tị, có lẽ vì Mã hoàng hậu phản ánh hình ảnh của bà. Cũng vào năm 60, Minh Đế và Âm hoàng thái hậu thực hiện một chuyến thăm hiếm hoi đến quê nhà ở Nam Dương quận, họ đã dành vài ngày để thiết đãi đại tiệc các họ hàng xa thuộc họ Đặng và họ Âm của Âm hoàng thái hậu.
 
Năm Vĩnh Bình thứ 7 ([[64]]), chính nguyệt, ngày [[Quý Mão]] (tức ngày [[3 tháng 1]] dương lịch), Hoàng thái hậu Âm Lệ Hoa giá băng, hưởng thọ 60 tuổi. Bà được táng một cách trang trọng dành cho một Thái hậu và được hợp táng cùng với phu quân Quang Vũ Đế của bà tại [[Nguyên lăng]].
 
== Hậu duệ ==