Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
replaced: thứ 4 của → thứ tư của (2), thứ 6 của → thứ sáu của using AWB
Năm Canh Thủy thứ 3 ([[25]]), [[tháng 6]], Lưu Tú đã rời bỏ [[Canh Thủy Đế]], và tự tuyên bố mình là Hoàng đế triều Hán, cải nguyên Kiến Vũ, tức [[Hán Quang Vũ Đế]]<ref>《后汉书·光武帝纪》(建武元年)六月己未,即皇帝位。燔燎告天,禋于六宗,望于群神。</ref>. Cuối năm đó, khi chiếm được [[Lạc Dương]] làm kinh đô, Lưu Tú đã cử các thuộc hạ 300 người đến hộ tống Âm Lệ Hoa đến kinh thành, và phong làm [[Quý nhân]]<ref>郦元《水经注》曰:鲁阳关水历衡山西,南经皇后城。建武元年光武遣,侍中傅俊持节迎光烈皇后於济阳,后发兵三百馀人,宿卫皇后道路归京师,盖税舍所在,故得其名矣。</ref>. Quách Thánh Thông cũng cùng một cấp phong làm Quý nhân<ref>《后汉书·皇后纪》光武即位,令侍中傅俊迎后,与胡阳、宁平主诸宫人俱到洛阳,以后为贵人。</ref>, nhưng Quang Vũ Đế vẫn ý vị tấn phong anh cả Âm Thức của Âm Lệ Hoa làm ''"Âm Hương hầu"'' (陰鄉侯), cố ý để địa vị nhà họ Âm cao hơn nhà họ Quách<ref>《后汉书·皇后纪》及光武为司隶校尉,方西之洛阳,令后归新野。及邓奉起兵,后兄识为之将,后随家属徙淯阳,止于奉舍。</ref>.
 
Năm Kiến Vũ thứ 2 ([[26]]), Quang Vũ Đế đã chuẩn bị để tấn phong một [[Hoàng hậu]]. Âm Lệ Hoa là nguyên phối phu nhân, cũng được Quang Vũ Đế yêu hơn cả, bản thân Quang Vũ Đế đã tán dương bà là ''"Nhã tính khoan nhân, có đức độ mẫu nghi"'', rất xứng Hậu vị<ref>《后汉书·皇后纪》帝以后雅性宽仁,欲崇以尊位</ref><ref>《东观汉记·卷六·传一》上以后性贤仁,宜母天下,欲授以尊位。</ref>, thế nhưng khi đó Âm Quý nhân chưa hạ sinh Hoàng tử, và bà đã khước từ vị trí Hoàng hậu và tán thành Quách Quý nhân<ref>《后汉书·皇后纪》后固辞,以郭氏有子,终不肯当,故遂立郭皇后。</ref><ref>《东观汉纪·卷六·传一》后辄退让,自陈不足以当大位。</ref>. Không còn cách nào, Quang Vũ Đế đã lập Quách Thánh Thông làm Hoàng hậu và lập con trai của Quách hậu là Lưu Cương làm [[Hoàng thái tử]].
 
Cũng trong năm này, Chân Định vương Lưu Dương dường như bất bình trước việc chậm chạp lập Hậu của Quang Vũ Đế, đã quyết định nổi loạn, sau đó bị giết. Ấn lẽ thường, Quách hậu cùng gia tộc họ Quách sẽ bị liên lụy, thế nhưng vào lúc này nhà Đông Hán không ổn định, Quang Vũ Đế cũng không thể tùy tiện đưa ra quyết định tận diệt, do đó vẫn hết sức thiện đãi Quách hậu<ref>《后汉书·耿纯传》时真定王刘扬复造作谶记云:“赤九之后,瘿扬为主。”扬病瘿,欲以惑众,与绵曼贼交通。建武二年春,遣骑都尉陈副、游击将军邓隆征扬,扬闭城门,不内副等。乃复遣纯持节,行赦令于幽、冀,所过并使劳慰王侯。密来纯曰:“刘扬若见,因而收之。”纯从吏士百余骑与副、隆会元氏,俱至真定,止传舍。扬称病不谒,以纯真定宗室之出,遣使与纯书,欲相见。纯报曰:“奉使见王侯牧守,不得先诣,如欲面会,宜出传舍。”时扬弟临邑侯让及从兄细各拥兵万余人,扬自恃众强而纯意安静,即从官属诣之,兄弟并将轻兵在门外。扬入见纯,纯接以礼敬,因延请其兄弟,皆入,乃闭郃悉诛之,因勒兵而出。真定震怖,无敢动者。</ref><ref>《后汉书·光武帝纪》:(建武二年正月)真定王杨、临邑侯让谋反,遣前将军耿纯诛之。</ref>.
Hơn nữa, lúc ấy thiên hạ chưa bình, rất nhiều công thần còn không có đất phong (vào thời điểm Quang Vũ Đế đại phong là tận năm Kiến Vũ thứ 13), thế mà Quang Vũ Đế lại lấy nguyên do Âm Quý nhân từng từ chối Hậu vị, phong tước Hầu cho anh em trai họ. Theo luật đời Hán, chỉ có gia quyến nhà Hoàng hậu mới được phong Liệt hầu, hơn nữa không thể phong nhiều, ví dụ Hiếu Nguyên hậu [[Vương Chính Quân]] trong thời làm Thái hậu, phong Liệt hầu hơn 5 người, cũng đã chịu sự phản đối gay gắt<ref>《后汉书·皇后纪》(明得皇后马氏)太后诏曰:“凡言事者皆欲媚朕以要福耳。昔王氏五侯同日俱封,(李贤注:成帝封太后弟王谭、王商、王立、王根、王逢时等,同时为关内侯。)其时黄雾四塞,不闻澍雨之应。又田蚡、窦婴,宠贵横恣,倾覆之祸,为世所传。</ref>. Âm Lệ Hoa khi đó chỉ là Quý nhân, Quang Vũ Đế lại truy phong cha cùng tấn phong cho anh em tước Liệt hầu, trong khi vô số tướng sĩ lập đại công còn phải chờ định mà ân phong, đây có thể nói là một đại ân sủng, vô tiền khoáng hậu trong lịch sử.
 
Năm Kiến Vũ thứ 13 ([[37]]), Lưu Dương được 10 tuổi, Quang Vũ Đế khen ngợi gọi là '''Ngô Quý Tử''' (吴季子), điều này càng làm triều đình chấn động. Ngô Quý Tử, cũng gọi [[Ngô Quý Trát]], là con trai thứ 4 của Ngô vương [[Ngô Thọ Mộng]], vốn dĩ không có tư cách kế thừa Vương vị, nhưng Thọ Mộng lại hi vọng đứa con này kế thừa, cho nên con cả của Thọ Mộng là [[Ngô Chư Phàn]] quyết liệt xin nhường Trữ vị cho Quý Tử, nhưng Quý Tử kiên quyết từ chối<ref>《史记·五帝本纪》季札贤,而寿梦欲立之,季札让不可,于是乃立长子诸樊,摄行事当国。</ref>. Nhìn đây có thể suy ra, Quang Vũ Đế thực sự mong Lưu Dương kế vị, nhưng lại sợ gia tộc họ Âm sẽ là điều liên lụy Lưu Dương, khiến Lưu Dương không thể kế vị. Thế nhưng, Lưu Dương khi nghe xong lại nói:''"Ngu dốt vô cùng!"'', cho thấy thái độ không chịu nhường ai của Lưu Dương<ref>《东观汉记》年十岁通春秋,上循其头曰“吴季子”。阳对曰:“愚戆无比。”阳对曰:“愚戆无比。”及阿乳母以问师傅,曰:“少推诚对。”师傅无以易其辞。</ref>.
 
=== Nhập chủ Trung cung ===
Vào năm Kiến Vũ thứ 13, đất Thục được bình định, Quang Vũ Đế đại phong công thần ngoại thích, nhưng trong đó lại không bao gồm ngoại thích họ Quách của Quách hậu, em trai Quách hậu là Quách Huống mãi đến năm Kiến Vũ thứ 14 ([[38]]) mới thăng nhậm ''"Thành môn Giáo úy"'' (城门校尉). Năm Kiến Vũ thứ 15, ngoại thích họ Âm cùng họ Phàn (thân tộc của mẹ Quang Vũ Đế là [[Phàn Nhàn Đô]]) được sắc chỉ ân phong, lại tiếp tục gạt họ Quách ra một bên. Quang Vũ Đế phong con trưởng của Âm Quý nhân là Lưu Dương làm '''Đông Hải công''' (东海公), nước Đông Hải gồm 23 huyện, là chư hầu quốc lớn nhất trong số các phiên quốc của chúng hoàng tử<ref>《廿二史考异》卷十一:钱大昕云:“《郡国志》东海十三城,赣榆本属琅邪,实十二城。鲁国六城并之,止十八县。而琅邪郡之开阳、临沂、即丘、缯,下邳国之下邳、曲阳、司吾、良成,广陵郡之海西,泰山郡之南城、费,皆故属东海,故运二十九县。”</ref><ref>《后汉书·光武帝纪》二十八年春正月己巳,徙鲁王兴为北海王,以鲁国益东海。</ref>. Quách hậu bởi vì từ từ thất sủng, dòng dõi họ Quách cũng bị gạt sang một bên một cách trắng trợn, luôn bị xếp dưới ngoại thích họ Âm, bởi vậy khiến Quách hậu cực kỳ bất mãn.
 
Năm Kiến Vũ thứ 17 ([[41]]), Quang Vũ Đế Lưu Tú lấy lý do: 「Hoài thế oán đỗi, sổ vi giáo lệnh, bất năng phủ tuần tha tử, huấn trường dị thất; 懷勢怨懟,數違教令,不能撫循他子,訓長異室」, ra chỉ phế truất Quách hậu, đưa Âm Quý nhân lên thay, trở thành Hoàng hậu.
 
Thay vì tống giam vào lãnh cung như các Hoàng hậu bị phế truất khác, Quang Vũ Đế đã lập con trai [[Lưu Phụ]] của Quách Thánh Thông làm ''Trung Sơn vương'', và lập bà làm ''Trung Sơn Vương thái hậu''. Quang Vũ Đế cũng phong em trai của Quách Thánh Thông là [[Quách Huống]] (郭況) một chức quan quan trọng và đã ban cho Quách Huống nhiều của cải. Không nỡ lòng nào phế truất cả mẹ lẫn con, Quang Vũ Đế ban đầu vẫn để Lưu Cương làm Hoàng thái tử. Tuy nhiên, vị Hoàng thái tử Lưu Cương này nhận thấy địa vị của mình không chắc chắn, vì mẹ ông đã bị phế truất, từ vị trí ''"Đích trưởng tử"'' bây giờ trở thành ''"Thứ trưởng tử"'', danh không chính ngôn không thuận, nên đã nghe theo thầy học [[Chất Uẩn]] (郅恽) khuyên can, nhiều lần thỉnh cầu lên Quang Vũ Đế chủ động được từ bỏ ngôi vị<ref>《后汉书·郅恽传》后既废,而太子意不自安,恽乃说太子曰:“久处疑位,上违孝道,下近危殆。昔高宗明君,吉甫贤臣,及有纤介,放逐孝子。</ref><ref>《家语》曰:“曾参妻为梨蒸不熟,因出之,终身不娶。其子请焉。曾参曰:‘高宗以后妻杀孝子,尹吉甫以后妻放伯奇,吾上不及高宗,中不比吉甫,知其得免于非乎!’遂不娶。”</ref>. Từ đây, Đông Hải vương Lưu Dương lấy thân phận Đích trưởng tử ở trong triều đình tham dự chính vụ.
Năm Kiến Vũ thứ 19 ([[43]]), [[mùa xuân]], Đông Hải vương Lưu Dương bình định Thiền vu [[Đan Thần]] (单臣), công lao hiển hách<ref>《后汉书·臧宫传》十九年,妖巫维汜弟子单臣、傅镇等,复妖言相聚,入原武城,劫吏人,自称将军。于是遣宫将北军及黎阳营数千人围之。贼谷食多,数攻不下,士卒死伤。帝召公卿诸侯王问方略,皆曰“宜重其购赏”。时显宗为东海王,独对曰:“妖巫相劫,埶无久立,其中必有悔欲亡者。但外围急,不得走耳。宜小挺缓。令得逃亡,逃亡则一亭长足以禽矣。”帝然之,即来宫彻围缓贼,贼众分散,遂斩臣、镇等。宫还,迁城门校尉,复转左中郎将。击武溪贼,至江陵,降之。</ref>. [[Tháng 6]] năm đó, Quang Vũ Đế chấp thuận và phong cho Đông Hải vương Lưu Dương làm [[Hoàng thái tử]] thay thế. Ông cũng đổi tên húy của tân hoàng thái tử thành '''Trang''' (莊)<ref>《后汉书·光武帝纪》六月戊申,诏曰:“《春秋》之义,立子以贵。东海王阳,皇后之子,宜承大统。皇太子强,崇执谦退,愿备藩国。父子之情,重久违之。其以强为东海王,立阳为皇太子,改名庄。</ref>. Sau khi Lưu Trang trở thành Thái tử, lập tức vào Đông Cung tức vị<ref>《后汉书·阴识传》及显宗立为皇太子,以识守执金吾,辅导东宫。</ref>, Quang Vũ Đế dùng hơn 10 vạn tiền mời danh Nho là [[Hoài Vinh]] (桓荣) làm ''"Đông cung Giáo thụ"'', phù trợ Thái tử<ref>《后汉书·桓荣传》时显宗始立为皇太子,选求明经,乃擢荣弟子豫章何汤为虎贲中郎将,以《尚书》授太子。世祖从容问汤本师为谁,汤对曰:“事沛国桓荣。”帝即召荣,令说《尚书》,甚善之。拜为议郎,赐钱十万,入使授太子。</ref>. Từ trước, lúc Lưu Cương làm Thái tử, Quang Vũ Đế vẫn mãi không cho Lưu Cương tức vị Đông Cung, nên nghi chế cùng quan viên cần thiết vẫn chưa được thiết lập, từ khi Lưu Trang được sách lập, mới bắt đầu định quy chế triều nghi, cách thức Thái tử ngự triều như thế nào, cũng mới dần được ghi chép rõ ràng<ref>《后汉书·班彪传》又旧制,太子食汤沐十县,设周卫交戟,五日一朝,因坐东箱,省视膳食,其非朝日,使仆、中允旦旦请问而已,明不媟黩,广其敬也。</ref>. Theo lệ, các hoàng tử không phải Thái tử, khi đã được phong địa thì phải đến nhậm ngay, nhưng trong khi các con trai của Quách Thái hậu cùng Sở vương Lưu Anh - con của Hứa mỹ nhân - đều đã đến phiên quốc, thì các con trai khác của Âm hậu vẫn được giữ lại Lạc Dương<ref>《后汉书·光武帝纪》(建武二十八年)秋八月戊寅,东海王强、沛王辅、楚王英、济南王康、淮阳王延始就国。</ref>.
 
Từ khi trở thành Hoàng hậu, Âm hậu đã không được đề cập đến thường xuyên trong sử sách trong thời gian này, một dấu hiệu cho thấy bà đã không cố gắng sử dụng ảnh hưởng như một Hoàng hậu. Tuy nhiên, ba em trai của bà đều trở thành các quan viên và Hầu tước quyền lực, mặc dù họ thường có các vị trí cấp thấp và không tìm kiếm chức vụ cao hơn cho mình.
 
Sau khi Âm hậu được lập, anh trưởng của Âm hậu là [[Âm Thức]] được tấn phong làm ''"Nguyên Lộc hầu"'' (原鹿侯), kiêm thêm ''"Chấp kim ngô"'' (执金吾) rồi ''"Phụ đạo Đông cung"'' (辅导东宫), mỗi khi Quang Vũ Đế đi tuần các quận quốc, Âm Thức đảm nhận vị trí trấn thủ kinh sư<ref>《后汉书·阴识传》建武元年,光武遣使迎阴贵人于新野,并征识。识随贵人至,以为骑都尉,更封阴乡侯。二年,以征伐军功增封,识叩头让曰:“天下初定,将帅有功者众,臣托属掖廷,仍加爵邑,不可以示天下。”帝甚美之,以为关都尉,镇函谷。迁侍中,以母忧辞归。十五年,定封原鹿侯。显宗立为皇太子,以识守执金吾,辅导东宫。帝每巡郡国,识常留镇守京师,委以禁兵。入虽极言正议,及与宾客语,未尝及国事。帝敬重之,常指识以来戒贵戚,激厉左右焉。</ref>. Em trai [[Âm Hưng]], từng đảm nhiệm ''"Hoàng môn Thị lang"'' (黄门侍郎), lãnh đạo đội Thân vệ của Quang Vũ Đế, sau sự kiện Đặng phu nhân cùng Âm Hân bị giết, Âm Hưng cố quyết chối từ phong Liệt hầu của Quang Vũ Đế, sau khi Lưu Trang được lập Thái tử, thăng làm ''"Vệ úy"'' (卫尉), dự trong hàng Cửu Khang, cũng lãnh vai trò Phụ đạo cho Thái tử<ref>《后汉书·阴兴传》建武二年,为黄门侍郎,守期门仆射,典将武骑,从征伐,平定郡国。兴每从出入,常操持小盖,障翳风雨,躬履涂泥,率先期门。光武所幸之处,辄先入清宫,甚见亲信。虽好施接宾,然门无侠客。与同郡张宗、上谷鲜于裒不相好,知其有用,犹称所长而达之;友人张汜、杜禽与兴厚善,以为华而少实,但私之以财,终不为言:是以世称其忠平。第宅苟完,裁蔽风雨。九年,迁侍中,赐爵关内侯。帝后召兴,欲封之,置印绶于前,兴固让曰:“臣未有先登陷阵之功,而一家数人并蒙爵土,令天下觖望,诚为盈溢。臣蒙陛下、贵人恩泽至厚,富贵已极,不可复加,至诚不愿。”帝嘉兴之让,不夺其志。贵人问其故,兴曰:“贵人不读书记邪?‘亢龙有悔。’夫外戚家苦不知谦退,嫁女欲配侯王,取妇眄睨公主,愚心实不安也。富贵有极,人当知足,夸奢益为观听所讥。”贵人感其言,深自降挹,卒不为宗亲求位。十九年,拜卫尉,亦辅导皇太子。明年夏,帝风眩疾甚,后以兴领侍中,受顾命于云台广室。会疾瘳,召见兴,欲以代吴汉为大司马。兴叩头流涕,固让曰:“臣不敢惜身,诚亏损圣德,不可苟冒。”至诚发中,感动左右,帝遂听之。</ref>. Vào lúc này, người được Âm Thức hay Âm Hưng tiến cử đều được bổ nhiệm chức vị rất cao<ref>《后汉书·阴识传》识所用掾史皆简贤者,如虞廷、傅宽、薛愔等,多至公卿校尉。</ref><ref>《后汉书·阴兴传》二十三年,卒,时年三十九。兴素与从兄嵩不相能,然敬其威重。兴疾病,帝亲临,问以政事及群臣能不。兴顿首曰:“臣愚不足以知之。然伏见议郎席广、谒者阴嵩,并经行明深,逾于公卿。”兴没后,帝思其言,遂擢广为光禄勋;嵩为中郎将,监羽林十余年,以谨来见幸。显宗即位,拜长乐卫尉,迁执金吾。</ref>, ngoài ra còn lần lượt giữ những chức vị chưởng quản Cấm vệ quân của nhà Hán, trong lịch sử Tây Hán thì chỉ khi Hoàng hậu tấn vị Thái hậu, thì ngoại thích mới đạt được vị trí này, cũng là phi thường hiếm thấy. Đặc biệt là hiện tượng này đã diễn ra ở thời [[Vương Mãng]], đã có tiền lệ, thế mà Quang Vũ Đế vẫn rất an tâm dùng họ Âm tiếp tục cái lệ này, cho thấy mức độ tin cậy của Quang Vũ Đế đối với nhà họ Âm là cực kì lớn.
 
=== Hoàng thái hậu tôn quý ===
Năm Kiến Vũ trung nguyên thứ 2 ([[57]]), Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú băng hà, người kế vị là Hoàng thái tử Lưu Trang, tức [[Hán Minh Đế]]. Âm Hoàng hậu nhận tước vị [[Hoàng thái hậu]].
 
Khác với các Hoàng thái hậu nhà Tây Hán, Âm Thái hậu có ảnh hưởng ở mức trung bình đối với con trai của bà, và bà cũng không không trực tiếp can dự nhiều vào chính sự. Lúc đó, nhà họ Âm, họ Phàn, họ Quách cùng Mã thị được xưng là '''Tứ tính Tiểu hầu''' (四姓小侯)<ref>《后汉书·孝明帝纪》李贤注:袁宏《汉纪》曰,永平中崇尚儒学,自皇太子、诸王侯及功臣子弟,莫不受经。又为外戚樊氏、郭氏、阴氏、马氏诸子弟立学,号四姓小侯,置《五经》师。以非列侯,故曰小侯。礼记曰“庶方小侯”,亦其义也。</ref>.
== Hậu duệ ==
Quang Liệt hoàng hậu Âm Lệ Hoa có tổng cộng 5 người con với [[Hán Quang Vũ Đế]] Lưu Tú, tất cả đều là hoàng tử. Bao gồm:
# [[Hán Minh Đế]] Lưu Trang, hoàng tử thứ 4 của Hán Quang Vũ Đế. Tên cũ '''Lưu Dương''' [劉暘].
# [[Lưu Thương]] [刘苍], hoàng tử thứ 6sáu của Hán Quang Vũ Đế, thụy '''Đông Bình Hiến vương''' (东平宪王), mất năm Kiến Sơn thứ 8 ([[83]]) thời [[Hán Chương Đế]]. Trước khi Âm hậu trở thành Kế hậu, ông được phong ''"Đông Bình công"'' (东平公). Trong lịch sử Đông Hán, ông nổi tiếng là một người hay văn thơ, phụ chính thời Hán Minh Đế và vị trí còn trên cả [[Tam công]]. Sau vì lo sợ mà quay về đất phong Đông Bình, rút khỏi chính trường.
# [[Lưu Kinh]] [劉荊], hoàng tử thứ 8 của Hán Quang Vũ Đế, thụy '''Quảng Lăng Tư vương''' (广陵思王). Năm Kiến Vũ thứ 15 ([[39]]), sắc phong tước ''"Sơn Dương công"'' (山阳公), sau khi Âm hậu lên ngôi cải thành ''"Sơn Dương vương"'' (山阳王). Luôn đối đầu với anh trai Hán Minh Đế, ngay sau khi Quang Vũ Đế băng thì mật mưu với [[Quách Huống]] tính bề mưu phản, sau bị bại lộ và bị đày đi Hà Nam cung. Sau này Hán Minh Đế cải phong nước Quảng Lăng, tước ''"Quảng Lăng vương"'' (广陵王), phái đến ở đấy nhưng Lưu Kinh vẫn chống đối tạo phản, việc bị lộ, cho tự sát. Mất năm Vĩnh Bình thứ 10 ([[67]]), thụy là ''Tư'' (思).
# [[Lưu Hành]] [刘衡], hoàng tử thứ 9 của Hán Quang Vũ Đế, thụy '''Lâm Hoài Hoài công''' (临淮怀公), mất năm Kiến Vũ thứ 17 ([[41]]).