Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Đế quốc La Mã”

n
Sau khi Constantine I qua đời, Đế chế lại bị chia ba bởi ba người con của ông. Tây La Mã bị chia đôi giữa con trưởng là [[Constantine II]] và con út là [[Constans]]. Đông La Mã cùng Constantinople thuộc về con thứ, [[Constantius II]]. Cuồi cùng thì Constantius II đánh bại được các anh em mình, thế nhưng tới năm 360 thì sự thống trị của ông lại bị lung lay. Trước đó ông đã phong cho [[Flavius Claudius Julianus|Julian]] (Flavius Claudius Julianus) làm Caesar ở Tây La Mã vào năm 355. Trong 5 năm sau đó, Julian giành nhiều thắng lợi trên chiến trường trước các tộc German, bao gồm cả người Alamanni. Khi Constantius hạ lệnh cho các quân đoàn xứ Gaul phải sang phía đông để tiếp viện cho cuộc chiến với Ba Tư, họ đã nổi dậy và tôn chỉ huy của mình là Julian lên làm Augustus. Vào lúc hai vị hoàng đế đều chưa muốn tiến quân đánh nhau thì Constantius đã qua đời vì bệnh vào tháng 11 năm 361, khiến đất nước tránh được một cuộc nội chiến.
 
===Julianus và JovianJovianus (361–364)===
Dưới triều Hoàng đế [[Julianus (Hoàng đế)|Julianus]], triều đình [[La Mã]] cổ súy trở lại cho các [[tôn giáo đa thần]] và và tiến hành đàn áp [[Ki-tô giáo]] (mặc dù bản thân ông không phải là một tín đồ ngoại giáo). Những chính sách này làm nhận định về ông trong các tài liệu thời đó rất mâu thuẫn: những người ngoại giáo thì xem ông như một vị anh hùng, còn các Ki-tô hữu thì lại cho ông là một tên vua xấu xa. Thế nhưng dù sao đi nữa thì sự phục hưng ngoại giáo này cũng kéo dài chẳng được bao lâu. Nó đã chết yểu khi ông qua đời trên chiến trường trong các cuộc chiến tranh chống lại Đế quốc Sassanid (năm 363).
 
Là một thiên tài quân sự vĩ đại nhất thời đại đó, Hoàng đế Julianus đã thân chinh xuất quân đại phá tan nát quân Sassanid do Hoàng đế [[Shapur II]] thống lĩnh trong [[Trận Ctesiphon (363)|trận đánh]] gần kinh đô [[Ctesiphon]] của Đế quốc Sassanid, làm vua Shapur II cùng đám tùy tùng phải bỏ chạy.<ref name="redout">Joseph J. Reed, ''Outlines of universal history: in three parts; with a copious index to each part, showing the correct mode of pronouncing every name mentioned ...'', trang 158</ref> Không những thế, ông cũng là một nhà bảo trợ của [[triết học]] và [[khoa học]], nên ông được gọi là vị ''[[vua-triết gia]]''.<ref>Russell M. Lawson, ''Science in the ancient world: an encyclopedia'', trang 127</ref> Khi Hoàng đế Julianus đột ngột qua đời, Hoàng đế Shapur II cũng giành lại thế thượng phong.<ref name="redout"/> Vì Hoàng đế Julianus không có con và không chỉ định người thừa kế nên quân đội tôn [[JovianJovianus (hoàng đế La Mã)|Jovianus]], lúc bấy giờ là một viên tướng khá vô danh, lên làm hoàng đế. Hoàng đế Jovian phải ký một hòa ước bất lợi với Đế quốc Sassanid (bao gồm việc phải trao trả lại các vùng đất đã giành được từ tận thời Hoàng đế Traianus, trong đó có vương quốc Armenia). Dưới thời của mình, JovianJovianus cũng hồi phục lại địa vị cho Thiên chúa giáo.
 
==La Mã từ năm 364 đến 395==