Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Tuồng Quảng Nam”

[[Hình:Mặt nạ tuồng.jpg|nhỏ|300px|phải| Các vai diễn nổi tiếng trong nghệ thuật tuồng]]
'''Tuồng''' còn gọi là '''hát bội''' hay ''' hát bộ''' là một loại hình sân khấu dân gian của [[văn học Việt Nam]]. Cùng với [[chèo]], [[tuồng]] là một trong hai bộ phận chủ yếu của [[văn kịch]]. Bàn đến nghệ thuật [[tuồng]], người ta thường nghĩ đến hai vùng đất có nhiều thành tựu nổi bật là [[Bình Định]] và [[Quảng Nam]], bài này chỉ đề cập về '''tuồng Quảng Nam''' với nguồn gốc [[lịch sử]] và [[nghệ thuật]] tuồng riêng của đất [[Quảng Nam|Quảng]].
==Nguồn gốc tuồng Quảng Nam==
Theo truyền thuyết lưu hành trong dân gian thì '''Tuồng Quảng Nam''' ra đời từ cái nôi của hai vùng [[Đức Giáo]] và [[Khánh Thọ]] (khoảng đầu [[thế kỷ 19]]).
 
Các lão nghệ nhân ngày trước kể rằng: Ở vùng thượng lưu của [[sông Thu Bồn]] có một gánh tuồng hát rất hay tên là Mỹ Lưu. Vào mùa đông bão lụt dữ dội nọ, cơn lũ lớn ập vào làng và cuốn trôi mất chiếc trống con (trống chiến)- nhạc cụ chỉ huy của dàn nhạc tuồng xuôi về sông Cái, ra biển [[Cửa Đại]].
 
Khi gánh hát Mỹ Lưu dần tan rã thì vùng đất xuôi theo sông Thu Bồn lại nảy nở nghệ thuật [[tuồng]] như Đại Bình, Bàu Toa, Bảo An, Phong Thử, Hội An...
 
Cùng với câu chuyện có tính chất huyền thoại trên thì hai cứ liệu về Tuồng xứ Quảng về gánh hát làng Đức Giáo và Khánh Thọ di cư từ [[Quảng Bình|Bình]] [[Quảng Trị|Trị]] [[Thừa Thiên-Huế|Thiên]] vào xứ Quảng là tương đối thuyết phục.
 
*Làng [[Đức Giáo]] từ [[Huế]] vào Quảng "vô địa lập chùy, dĩ xướng ca vi nghệ" (không mảnh đất cắm dùi, lấy xướng ca làm nghề sinh sống), lập thành làng riêng lấy tên là Khánh Đức nhưng "hữu đinh vô điền" (có dân mà không có ruộng đất), lưu diễn nhiều nơi. Vào khoảng [[thập niên 1920]], khi gánh hát của [[Nhưng Giai]] và [[Nhưng Bính]] nổi lên thì gánh hát Khánh Đức bắt đầu suy yếu. Gánh hát này thực sự tan rã vào năm [[1972]] sau một trận bom của Mỹ thiêu hủy toàn bộ y trang, đạo cụ của đoàn.
 
* Trong Văn tế tổ của Tuồng Quảng Nam có câu:
:''...Tự Minh Mạng hoàng đế hữu Việt Thường công thự, thiết lập hoàn thành''
:''Chí Tự Đức vương triều dĩ Quảng Nam trung thanh duy cầu sở học''
 
:(Từ vua [[Minh Mạng]] xây dựng hoàn thành thự Việt Thường. Đến vua [[Tự Đức]] bảo (diễn tuồng) nên học theo giọng trung thanh của [[Quảng Nam]])
 
Tiếng [[Huế]] nhẹ, tiếng [[Bình Định]] trong và sắc sảo, tiếng [[Quảng Nam]] thô nhưng rất hợp với tuồng. (Tuồng chủ yếu xuất hiện ở ba vùng đất này.)
 
Gánh hát Khánh Đức hình thành từ [[Trò Bội]] xứ Quảng, có thể đã bắt từ thế giữa [[thế kỷ 17]], sau chiến thắng lớn của [[chúa Nguyễn]] năm [[1648]] và gắn liền với hình thức sinh hoạt vùng kinh tế nông nghiệp mới khai hoang. Từ "tuồng sân" gắn bó mật thiết với cộng đồng, tuồng phát triển thành "tuồng rạp" và dần dần trở thành một nghệ thuật hát xướng mua vui trong cung đình.
 
==Vở tuồng cổ đầu tiên==
Người dùng vô danh