Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Thêm tài liệu
''''Trần Văn Dư''' ([[1839]]-[[1885]]), cònhúy: ''Tự Dư'', tên thụy: ''Hoán Nhược''Trần Ngọc<ref> Ghi theo Gia phả do con trai ông''' hayviết được in trong '''Trần Văn''', hiệuvới phong ''Hoántrào NhượcNghĩa hội'' do Nguyễn Q. Thắng biên soạn.</ref>; là quan [[nhà Nguyễn]] và là thủ lĩnh [[Nghĩa hội [[Quảng Nam]] trong [[phong trào Cần Vương]] tại [[Việt Nam]].
 
==Tiểu sử==
'''Trần Văn Dư''' sinh 15 [[tháng 11]] năm [[Kỷ Hợi]] (31 [[tháng 12]] năm [[1839]]), tại làng An Mỹ Tây, phủhuyện Hà Đông (nay là thôn An Thọ, xã Tam An, huyện [[Phú Ninh]]), tỉnh [[ Quảng Nam]].
NămXuất thân trong một gia đình nhà Nho, năm 19 tuổi ([[1858]]), ông đỗ [[tú tài]]. Năm [[1868]], ông đỗ [[cử nhân]] ân khoa. Năm [[Ất Hợi]] ([[1875]]) <ref> Gia phả ghi Trần Văn Dư đỗ [[Tiến sĩ]] năm [[1873]] là lầm, vì năm đó triều Nguyễn không mở khoa [[thi Hội]]. Tra ''Quốc triều đăng khoa lục'', thì thấy ông đỗ [[Tiến sĩ]] khoa [[Ất Hợi]] ([[1875]]).</ref> ông đỗ Đệ tam giáp đồng [[Tiến sĩ]], cùng khoa với [[Hoàng giáp]] Phạm Như Xương, người cùng tỉnh.
Cha ông là Trần Văn Đợi, một nhà nho nghèo, nhân hậu.
 
===Làm quan triều Nguyễn===
Năm 19 tuổi (1858), ông đỗ [[tú tài]]. Năm 1868, ông đỗ [[cử nhân]]. Năm Ất Hợi (1875), ông đỗ Đệ tam giáp đồng [[Tiến sĩ]], cùng khoa với [[Hoàng giáp]] Phạm Như Xương, người cùng tỉnh.
NămBan [[Tự Đức]] thứ 29 (1876)đầu, ông được bổ làm khảo trường thi [[Bình Định]], rồisau lần lượt trải các chức: Hành tẩu viện Cơ mật, Thừa biện [[bộ Lại]], Tri phủ [[Ninh Giang]] ([[1876]]), Tri phủ Quảng Oai (nay thuộc huyện [[Ba Vì]], [[Hà Nội]]) năm [[1878]]. Ở đây, ông bí mật liên lạc với các sĩ phu yêu nước, hợp tác với lực lượng của [[Hoàng Kế Viêm]] cùng mưu việc đánh [[thực dân Pháp|Pháp]].
 
Năm 1880[[1879]], ông được triệu về [[Huế]] làm Hàn lâm viện Thị độc, sung chức Giáo tập tại Dục Đức đường, Chánh Mông đường (tức lo việc dạy học cho vua [[Dục Đức]] và [[Đồng Khánh]] khi hai ông này chưa lên ngôi).
Năm [[Tự Đức]] thứ 29 (1876), ông được bổ làm sơ khảo trường thi [[Bình Định]], rồi lần lượt trải chức: Hành tẩu viện Cơ mật, Thừa biện [[bộ Lại]], Tri phủ [[Ninh Giang]], Tri phủ Quảng Oai (nay thuộc huyện [[Ba Vì]], [[Hà Nội]]) năm 1878. Ở đây, ông bí mật liên lạc với các sĩ phu yêu nước, hợp tác với lực lượng của [[Hoàng Kế Viêm]] cùng mưu việc đánh Pháp.
 
Năm [[1882]], ông làm Án sát sứ đạo [[Nghệ An|An]] [[Hà Tĩnh|Tĩnh]]. Sau, cải thụ Biện lý [[bộ Lại]], được phong Hồng lô Tự khanh, rồi Trung thuận Đại phu, sung Thương bạc Sự vụ.
Năm 1880, ông được triệu về [[Huế]] làm Hàn lâm viện Thị độc, sung chức Giáo tập tại Dục Đức đường, Chánh Mông đường (tức lo việc dạy học cho vua [[Dục Đức]] và [[Đồng Khánh]] khi hai ông này chưa lên ngôi).
 
Cuối năm [[1884]], ông giữ chức Sơn phòng sứ [[Quảng Nam]].
Năm 1882, ông làm Án sát sứ đạo [[Nghệ An|An]] [[Hà Tĩnh|Tĩnh]]. Sau, cải thụ Biện lý [[bộ Lại]], được phong Hồng lô Tự khanh, rồi Trung thuận Đại phu.
 
[[Tháng 5]] năm [[Ất Dậu]] ([[tháng 7]] năm [[1885]]), cuộc phản công của phe chủ chiến ở [[Kinh thành Huế]] thất bại, Phụ chính [[Tôn Thất Thuyết]] phải phò vua [[Hàm Nghi]] chạy ra [[Quảng Trị]], xuống [[chiếu Cần Vương|dụ Cần vương]] (13 [[tháng 7]] năm [[1885]]).
Năm 1884, ông được cử làm Thương bạc Sự vụ. Năm 1884, đời vua [[Kiến Phúc]], ông giữ chức Sơn phòng sứ Quảng Nam.
 
=== Hưởng ứng dụ Cần Vương===
Tháng 5 năm [[Ất Dậu]] (tháng 7 năm [[1885]]), cuộc phản công của phe chủ chiến ở [[Kinh thành Huế]] thất bại, Phụ chính [[Tôn Thất Thuyết]] phải phò vua [[Hàm Nghi]] chạy ra [[Quảng Trị]], xuống [[chiếu Cần Vương|dụ Cần vương]] (13 tháng 7 năm 1885).
Sau khi vua [[Hàm Nghi]] xuất bôn, triều Nguyễn nhận thấy việc cử Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ [[Quảng Nam]] là điều bất lợi cho “xu thế hợp tác” của họ <ref>Theo Nguyễn Q. Thắng, tr. 103).</ref>, nên cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu (nguyên Tế tửu Quốc tử giám ở [[Huế]]) ra giữ chức ấy, đồng thời đưa Trần Văn Dư lên làm Bố chánh tỉnh này, nhưng ông từ chối <ref>Theo ''[[Huỳnh Thúc Kháng]] tự truyện'', thì Trần Văn Dư được đổi vào làm Bố chánh [[Bình Thuận]]. Tuy nhiên, trong Gia phả (do con ông trai ông Dư viết) thì lúc bấy giờ “bà Từ Dũ Thái hoàng Thái hậu coi ngó chính quyền, ra lệnh cha tôi làm Bố chánh tỉnh [[Quảng Nam]]. Cha tôi từ chối không nhận chức ấy”. Theo Nguyễn Q. Thắng, có lẽ Gia phả viết đúng hơn (tr. 103).</ref>
 
Hưởng ứng dụ Cần Vương, ôngTrần Văn Dư cùng với [[Nguyễn Duy Hiệu]], [[Phan Bá Phiến]], [[Nguyễn Tiểu La|Tiểu La Nguyễn Thành]]... thành lập [[Nghĩa hội Quảng Nam]] do ông làm Thủ hội.
Không nhận chức việc mới, tháng[[Tháng 7]] năm [[Ất Dậu]] ([[tháng 8]] năm [[1885]]), ông thay mặt Nghĩa hội ra bảnBản cáoCáo thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh đứng lên chống Pháp.
Ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu (19 tháng 9 năm 1885), Khâm sứ Pháp ở Huế đưa Nguyễn Phúc Ưng Kỷ lên ngôi vua, lấy niên hiệu là [[Đồng Khánh]]. Chủ trương thân Pháp, triều Nguyễn liều cử Nguyễn Đình Tựu đến thay thế Trần Văn Dư, và điều ông vào làm Bố chánh tỉnh [[Quảng Ngãi]].
Ngày 4 [[tháng 9]] năm 1885đó, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu, Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hanh...chia quân ra làm nhiều cánh rồi cùng tiến đánh thành tỉnh La Qua (còn gọi là La Thành, tức thành tỉnh [[Quảng Nam]]), buộc Bố chánh Bùi Tiến Tiên, Tuần phủ Nguyễn Ngoạn, Án sát Hà Thúc Quán phải dẫn quân rút chạy.
Không nhận chức việc mới, tháng 7 năm [[Ất Dậu]] (8 năm 1885), ông thay mặt Nghĩa hội ra bản cáo thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh đứng lên chống Pháp.
Ngày 4 tháng 9 năm 1885, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu, Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hanh...chia quân ra làm nhiều cánh rồi cùng tiến đánh thành tỉnh La Qua (còn gọi là La Thành, tức thành tỉnh Quảng Nam), buộc Bố chánh Bùi Tiến Tiên, Tuần phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy.
 
Làm chủ thành tỉnh [[Quảng Nam]] được 20 ngày, đến ngày 25 [[tháng 9]] năm [[1885]], thì quân thủy bộ của Pháp cùng quân Nam triều dưới quyền chỉ huy của tướng Shants, Tiễu phú sứ [[Nguyễn Thân]], Bố chánh [[Lê Khiết]] <ref>Sau năm [[1908]], Lê Khiết thức tỉnh, tham gia [[phong trào Duy Tân]] nên bị Pháp giết (ghi chú của Nguyễn Q. Thắng, tr. 108).</ref> mở cuộc tái chiếm.
Trước lực lượng đông đảo và vũ khí tối tân của đối phương, Trần Văn Dư cùng Nguyễn Duy Hiệu quyết định rút đại bộ phận về căn cứ Sơn phòng Dương Yên thuộc miền cao phủ [[Tam Kỳ]].
 
Liên quân tiếp tục truy kích, đến [[tháng 10]] năm [[1885]], thì các căn cứ của Nghĩa hội ở [[Đại Lộc]], [[Quế Sơn]], [[Tam Kỳ]], [[Dương Yên]], [[An Lâm]], [[Đại Đồng]]... lần lượt bị vây đánh và thất thủ.
 
Trước tình thế nguy ngập đó, bộ chỉ huy Nghĩa hội bàn nhau chọn kế "giải binh quy điền" để bảo toàn lực lượng. [[Tháng 12]] năm [[1885]], Trần Văn Dư giao quyền Thủ hội cho Nguyễn Duy Hiệu <ref> Sau khi Trần Văn Dư bị thảm sát, sang năm [[1886]], ông Hiệu mới chính thức làm Thủ hội Nghĩa hội Quảng Nam (ghi chú của Nguyễn Q. Thắng, tr. 112).</ref>để ra [[Huế]] gặp vua [[Đồng Khánh]] (từng là học trò của ông), nhằm tìm ra một giải pháp.
 
Dọc đường, ông bị quyền TổngTuần đốcphủ sứ [[Quảng Nam]] Châu Đình Kế bắt giữ và báo với quân Pháp. Bất khuất, ông mắng chửi TổngTuần đốcphủ Kế. Căm tức, viên quan này đã mượn tay quân Pháp để giết chết ông <ref>Nhóm Nhân văn Trẻ chép ông bị ''xử bắn'' (tr. 261). Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế ghi ông bị ''xử chém'' (tr. 899).</ref> tại góc thành La Qua (tức thành tỉnh [[Quảng Nam]]) ngày 13 [[tháng 12]] năm [[1885]].
 
==Ghi công==
Hiện nay, phần mộ Trần Văn Dư đã được cải táng về thôn An Thọ, xã Tam An, huyện [[Phú Ninh]], tỉnh [[Quảng Nam]] và đã được công nhận là Di tích Văn hóa-Lịch sử cấp tỉnh.
 
Tên ông đã được dùng để đặt con một con đường ở [[quận Tân Bình]] ([[thành phố Hồ Chí Minh]]), một con đường ở quận [[Ngũ Hành Sơn]] ([[Đà Nẵng]]), và tên một trườngcon phổđường thôngtrong trungthành học ởphố [[PhúTam NinhKỳ]] ([[Quảng Nam]]), và tên củamột 1trường conphổ đườngthông trongtrung thànhhọc phố Tam[[Phú kỳNinh]] ([[Quảng Nam]]).
 
==Xem thêm==
*[[Nguyễn Duy Hiệu]]
*[[Nghĩa hội Quảng Nam]]
==Sách tham khảo==
*Nguyễn Q.Thắng, ''Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội''. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2001.
*Nguyễn Q.Thắng-Nguyễn Bá Thế, ''Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam''. Nxb.Nhà KH-XHxuất bản Khoa học xã hội, 1992.
*Nhóm Nhân văn Trẻ, ''Hỏi đáp lịch sử Việt Nam'' (tậpTập 4). Nxb. Trẻ, 2007.
==Chú thích==
{{reflist}}
 
==Sách tham khảo==
*Nguyễn Q.Thắng-Nguyễn Bá Thế, ''Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam''. Nxb. KH-XH, 1992.
*Nhóm Nhân văn Trẻ, ''Hỏi đáp lịch sử'' (tập 4). Nxb. Trẻ, 2007.
 
==Liên kết ngoài==
*[http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1642aWQ9MTg0NiZncm91cGlkPSZraW5kPXN0YXJ0JmtleXdvcmQ9dA==&page=48 Trần Văn Dư trong Bách khoa toàn thư]