Khác biệt giữa các bản “Boeing B-17 Flying Fortress”

n
=== Mặt trận Thái Bình Dương ===
 
[[Tập tin:NARA 2880-1277aG-32915 Burned B-17 Flying Fortress on Hickam Field after Pearl Harbor attack.jpg|phải|nhỏ|Chiếc B-17C Không lực số hiệu ''40-2074'' tại [[sân bay Hickam]], Trân Châu Cảng. Khi Đại úy Raymond T. Swenson hạ cánh vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, hỏa lực đối phương đã bắn trúng hộp chứa pháo sáng giữa thân làm cắt rời chiếc máy bay làm hai phần. Một thành viên đội bay thiệt mạng do bắn phá càn quét của Zero. Ảnh chụp bởi Tai Sing Loo. Mũ của Loo có thể nhìn thấy dưới đất.<ref name="A&K.1">Arakaki and Kuborn 1991, trang 73–75, 158–159.</ref>]]
 
Sáng ngày [[7 tháng 12]] năm [[Hàng không năm 1941|1941]], một nhóm 12 chiếc B-17 thuộc các Phi đội Trinh sát 38 (bốn chiếc B-17C) và 88 (tám chiếc B-17E) trên đường đi đến tăng cường cho lực lượng tại Philippine, đã bay từ [[sân bay Hamilton]], [[California]] đến Trân Châu Cảng, và đến nơi ngay vào giữa [[trận Trân Châu Cảng|trận tấn công của quân Nhật]]. Leonard "Smitty" Smith Humiston, phi công phụ trên chiếc B-17C số hiệu ''40-2049'' của [[Trung úy]] Robert H. Richards, thoạt tiên cho là Hải quân đang bắn 21 loạt đạn pháo chào mừng những chiếc máy bay ném bom mới đến, để sau đó ông mới nhận ra rằng Trân Châu Cảng đang bị tấn công. Chiếc Fortress sau đó phải chịu đựng hỏa lực từ những chiếc máy bay tiêm kích Nhật, cho dù các thành viên đội bay đều an toàn trừ một người bị trầy xước bàn tay. Hoạt động của đối phương buộc phải chuyển điểm hạ cánh từ [[sân bay Hickam]] về [[sân bay Bellows]], nơi chiếc máy bay hạ cánh chạy lố quá đường băng và lọt vào một rãnh nơi nó tiếp tục bị bắn phá. Thoạt xem có vẻ như sửa chữa được, chiếc máy bay số hiệu ''40-2049'' thuộc Liên đội Ném bom 11/Phi đội Trinh sát 38 trúng phải hơn 200 lỗ đạn và không bao giờ cất cánh nữa. Mười trong số 12 chiếc Fortress đã sống sót qua cuộc tấn công này.<ref name="A&K.2">Arakaki and Kuborn 1991, trang 73, 158-159.</ref>
27

lần sửa đổi