Khác biệt giữa các bản “Kế hoạch Marshall”

Không thay đổi kích thước ,  1 năm trước
n
→‎Bối cảnh tại châu Âu: chính tả, replaced: sản suất → sản xuất using AWB
n (clean up)
n (→‎Bối cảnh tại châu Âu: chính tả, replaced: sản suất → sản xuất using AWB)
Sự thiếu hụt lương thực là một trong những vấn đề trầm trọng nhất. Trước chiến tranh, Tây Âu phụ thuộc vào nguồn lương thực thặng dư từ Đông Âu, nhưng những nguồn đó đã bị chặn lại phía sau [[Bức màn sắt]]. Tình hình trở nên đặc biệt tồi tệ tại Đức, nơi mà theo Alan S. Milward trong năm 1946–47 lượng [[Ca-lo|kilocalorie]] trung bình trên đầu người chỉ là 1.800, không đủ đảm bảo sức khỏe về lâu về dài.<ref>Alan S. Milward, ''The Reconstruction of Western Europe''.</ref> Các nguồn khác cho biết lượng kilocalorie trong các năm đó thay đổi, có thể thấp đến mức 1.000 và 1.500. [[William Clayton]] thông báo cho Washington là "hàng triệu người đang từ từ chết đói".<ref>Gregory A. Fossedal, ''Our Finest Hour''.</ref> Một nhân tố cốt yếu khác cho nền kinh tế nói chung là sự thiếu hụt than đá, càng trở nên trầm trọng vì mùa đông lạnh lẽo 1946–47. Tại Đức, các căn hộ không được sưởi ấm, khiến hàng trăm người chết cóng. Tại Anh, tình hình không đến nỗi tồi tệ như vậy, nhưng nhu cầu dân chúng khiến cho sản xuất công nghiệp bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những động cơ thúc đẩy kế hoạch trên là lòng nhân đạo muốn chấm dứt những thảm cảnh đó.
[[Hình:Bundesarchiv_Bild_183-B0527-0001-753,_Krefeld,_Hungerwinter,_Demonstration.jpg|nhỏ|220px|Nạn đói mùa đông năm 1947, hàng ngàn người phản đối ở Tây Đức vì thiếu hụt lương thực (ngày 31 tháng 3 năm 1947). Tấm bảng ghi: "Chúng tôi muốn có than, chúng tôi muốn có bánh mì"]]
[[Đức]] nhận được nhiều đề nghị từ các quốc gia Tây Âu đổi lương thực lấy [[than đá]] và sắt thép tối cần thiết khi đó. Nhưng cả [[Ý]] lẫn [[Hà Lan]] đều không thể được bán rau quả mà trước đó họ vẫn bán ở Đức, với hệ quả là Hà Lan phải tiêu hủy một phần đáng kể vụ thu hoạch của mình. [[Đan Mạch]] muốn đổi 150 tấn mỡ lợn một tháng, [[Thổ Nhĩ Kỳ]] muốn đổi hạt dẻ; [[Na Uy]] muốn đổi cá và dầu cá, [[Thụy Điển]] muốn đổi một lượng lớn mỡ. Các quốc gia [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]], tuy nhiên, không muốn để người Đức được mua bán.<ref>Nicholas Balabkins, ''Germany Under Direct Controls: Economic Aspects of Industrial Disarmament 1945 - 1948'', Rutgers University Press, 1964 trang 125</ref> Trước tình hình đó, Tướng [[Lucius D. Clay]] và [[Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân]] (''Joint Chiefs of Staff'') ngày càng tỏ ra lo lắng trước sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đức, cũng như tình hình thất bại của các nền kinh tế châu Âu không thể phục hồi mà không có nền công nghiệp Đức, là nền móng mà trước kia họ phải dựa vào. Mùa hè năm 1947, Ngoại trưởng, Tướng George Marshall, dựa vào lý do "cơ sở an ninh quốc gia", cuối cùng đã thuyết phục được Tổng thống Harry S. Truman bãi bỏ chỉ thị JCS 1067 trừng phạt Đức, thay vào đó bằng chỉ thị JCS 1779.<ref>[http://www.usip.org/pubs/peaceworks/pwks49.html The Road Ahead: Lessons in Nation Building from Japan, Germany, and Afghanistan for Postwar Iraq, bởi Ray Salvatore Jennings] tháng 5 năm 2003, Peaceworks No. 49, [[United States Institute of Peace]] trang 14–15</ref> Tháng 7 năm 1947 chỉ thị JCS 1067, vốn vẫn định hướng cho lực lượng chiếm đóng Mỹ tại Đức nhằm "... không thực hiện bất kỳ bước nào để tiến tới khôi phục nền kinh tế Đức", được thay thế bởi chỉ thị JCS 1779, nhấn mạnh "Một châu Âu trật tự, phồn vinh đòi hỏi phải có sự đóng góp kinh tế từ một nước Đức ổn định và hiệu quả".<ref>[http://time-proxy.yaga.com/time/magazine/article/0,9171,887417,00.html Pas de Pagaille!] Time Magazine, Jul. 28, 1947.</ref> Chỉ thị JCS 1067 đã có hiệu lực trong vòng hơn hai năm. Những hạn chế áp đặt lên nền sản suấtxuất công nghiệp của Đức phần nào trở nên thông thoáng hơn, cho phép sản xuất thép tăng lên từ mức 25% trước chiến tranh<ref name="autogenerated3">[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,934360,00.html "Cornerstone of Steel"], ''[[Time (tạp chí)|Time Magazine]]'', ngày 21 tháng 1 năm 1946</ref><ref name="autogenerated1">[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,852764,00.html Cost of Defeat], ''[[Time (tạp chí)|Time Magazine]]'', 8 tháng 4 năm 1946</ref> tới định mức 50% năng suất trước thế chiến.<ref>[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,887417,00.html Pas de Pagaille!] Time Magazine, Jul. 28, 1947.</ref>
 
Nền công nghiệp Đức tiếp tục bị dỡ bỏ, và năm 1949 Thủ tướng Đức [[Konrad Adenauer]] viết thư cho phe Đồng Minh, yêu cầu chấm dứt việc đó, viện dẫn sự trái khoáy trong việc khuyến khích phát triển công nghiệp và việc phá bỏ các nhà máy, cũng như sự mất lòng dân từ chính sách đó.<ref>Dennis L. Bark and David R. Gress. ''A history of West Germany vol 1: from shadow to substance'' (Oxford 1989) trang 259</ref> Sự ủng hộ cho việc dỡ bỏ các nhà máy lúc này tới chủ yếu từ phía Pháp, và Thỏa thuận Petersberg tháng 11 năm 1949 cho phép giảm tốc độ phá dỡ đi rất nhiều, mặc dù việc tháo dỡ các nhà máy nhỏ tiếp tục cho tới năm 1951.<ref>Dennis L. Bark and David R. Gress. ''A history of West Germany vol 1: from shadow to substance'' (Oxford 1989) trang 260</ref> Kế hoạch "định mức công nghiệp" đầu tiên, được phe Đồng Minh ký ngày 9 tháng 3 năm 1946, tuyên bố nền công nghiệp nặng của Đức phải giảm xuống 50% mức năm 1938 bằng cách phá bỏ 1.500 [[nhà máy]] có tên trong danh sách.<ref>[[Henry C. Wallich]]. ''Mainsprings of the German Revival'' (1955) trang 348.</ref> Tháng 1 năm 1946, Hội đồng kiểm soát Đồng Minh áp đặt cơ sở cho nền kinh tế Đức bằng cách đặt hạn mức cho sản xuất [[thép]] của Đức vào khoảng 5,8 triệu tấn một năm, bằng với 25% mức trước chiến tranh.<ref name="autogenerated3" /> Nước Anh, chiếm đóng những vùng sản xuất thép chính, đòi phải giới hạn sản lượng hơn nữa bằng cách đặt một tối đa là 12 triệu tấn thép một năm, nhưng cuối cùng cũng phải chịu theo ý [[Hoa Kỳ|Mỹ]], [[Pháp]] và [[Liên Xô]] (vốn định đặt mức giới hạn 3 triệu tấn trước đó). Các nhà máy thép thừa ra sẽ phải bị phá bỏ. Nước Đức bị đẩy xuống mức sống khi cuộc [[Đại khủng hoảng]] lên tới đỉnh điểm năm 1932<ref name="autogenerated1" /> Sản xuất ô tô bị định ở 10% mức trước thời chiến....<ref>[http://www.trumanlibrary.org/whistlestop/study_collections/marshall/large/documents/index.php?pagenumber=10&documentid=22&documentdate=1947-03-24&studycollectionid=mp&nav=OK The President's Economic Mission to Germany and Austria, Report 3] [[Herbert Hoover]], March, 1947 trang 8</ref>