Khác biệt giữa các bản “Trịnh Chi Long”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
'''Trịnh Chi Long''' ¬({{zh|t=[[wikt:鄭|鄭]][[wikt:芝|芝]][[wikt:龍|龍]]|p=Zhèng Zhīlóng|w=Cheng Chih-lung}}; [[1604]] – [[1661]]), hiệu '''Phi Hồng''', '''Phi Hoàng''', tiểu danh '''Iquan''', tên [[Thiên Chúa Giáo]] là '''Nicholas''' hoặc '''Nicholas Iquan Gaspard''', người làng [[Thạch Tĩnh]], [[Nam An]], phủ [[Tuyền Châu]], [[Phúc Kiến]], [[Trung Quốc]], ông là [[thương nhân]], thủ lĩnh quân sự, quan lại triều đình kiêm [[cướp biển]] hoạt động mạnh ở vùng bờ biển [[Hoa Nam]], [[Đài Loan]] và [[Nhật Bản]] vào cuối đời [[nhà Minh]]. Ông chính là cha của [[Trịnh Thành Công]], khởi nghiệp ở [[Hirado]], [[Nhật Bản]] lúc ban đầu, sau tự tay tạo dựng nên tập đoàn thương nhân kiêm cướp biển vũ trang ngày càng lớn mạnh, tạo nền tảng vững chắc cho [[chính quyền Minh Trịnh]] sau này, trong các sách vở tại [[châu Âu]], ông thường được biết đến với các tên gọi như sau: '''Iquan''', '''Quon''', '''Iquon''', '''Iquam''', '''Equan'''.
 
Chi Long đẹp trai tráng kiện<ref>[[張遴白Trương Lân Bạch]]《難遊錄》:「芝龍少年姣好」, ''Nan du lục'': ''Chi Long thiếu niên kiều hảo''</ref>, là người không câu nệ tiểu tiết, lúc nhỏ: tính tình hào phóng, không thích đọc sách, có thể lực tốt, giỏi quyền bổng, nổi tiếng là người dũng lực trong làng<ref>[[Giang Nhật Thăng]], ''[[Đài Loan Ngoại Kỷ]]''</ref>, ông từng rửa tội theo [[Công giáo La Mã]], đồng thời tín ngưỡng thần biển [[Mã Tổ]]<ref><!--請列明作者、出版者和頁碼yêu cầu liệt kê tên tác giả, nhà xuất bản, số trang và mã hiệu-->Theo sách ''[[嘉義縣Gia Nghĩa]] huyện [[布袋鎮Bố Đại]]沿革》魍港太聖宮: trấn duyên cách'', Võng Cảng Thái Thánh cung: Năm [[1621]],顏思齊、鄭芝龍率眾來台,屯駐於此,立小廟於小丘之東南,以奉祀媽祖香火。, Nhan Tư Tề, Trịnh Chi Long dẫn bộ chúng đến Đài Loan, đồn trú tại đây, đã lập một miếu nhỏ ở gò nhỏ phía đông nam, để tế tự hương hỏa Mã Tổ.</ref><ref>《海外版湄洲日報》2001年2月''Nhật báo Mi Châu bản nước ngoài'', số ra ngày 7日。芝龍在平戶置兩幢房子,其中一幢供奉媽祖。 tháng 2 năm 2001: Chi Long cho dựng hai căn nhà chàng ở Hirado, một chàng trong đó dùng để thờ cúng Mã Tổ.</ref> và Bồ Tát [[Ma Lợi Chi Thiên]] của [[đạo Phật]]<ref>[[Lý Điệu Nguyên]] thời [[李調元Nhà Thanh|Thanh]]《南越筆記》:[[摩利支天]]菩薩,亦名天后。花冠瓔珞,赤足、兩手合掌、兩手擎日月、兩手握劍。天女二,捧盤在左右。盤一羊頭,一兔頭。前總制[[熊文燦]]之所造也。文燦招撫鄭芝龍時,使芝龍與海寇劉香大戰。菩薩見形空中,香因敗滅。 trong cuốn ''Nam Việt bút ký'' có viết như sau: Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên, cũng có tên là Thiên Hậu. Chuỗi ngọc mũ hoa, chân đỏ, hai tay chắp lại, hai tay vác nhật nguyệt, hai tay nắm kiếm. Hai thiên nữ, bưng mâm ở hai bên trái phải. Trên mâm có một cái đầu dê, một cái đầu thỏ. Trước đây là nơi ở của Tổng chế Hùng Văn Xán, thời Văn Xán chiêu hàng, phủ dụ Trịnh Chi Long, sai Chi Long đại chiến với hải khấu Lưu Hương, trông thấy Hình dạng Bồ Tát trên không trung, nhân đó mà tiêu diệt Hương.</ref>, tại Nhật Bản, ông rất tôn sùng [[Bát Phiên thần]] của [[Thần Đạo]]<ref>明清時,佚名《海泉傳考》:「芝龍泛海從倭,初常事各倭神,尤事八幡。」按,當時[[倭寇]]常樹立「八幡大菩薩旗」,以求[[八幡神]]庇佑。時人甚至稱倭寇船為「八幡船」。Vào thời Minh Thanh, dật danh ''Hải Tuyền truyền khảo'' viết: bằng chứng cho thấy Chi Long trôi dạt trên biển mà theo Nhật Bản, lúc đầu thường hay thờ cúng các vị thần Nhật Bản là '''''Vưu Sự Bát Phiên''''', Oa khấu đương thời thường dựng '''''Cờ Bát Phiên Đại Bồ Tát''''' , nhằm cầu xin sự che chở và giúp đỡ từ thần Bát Phiên. Người thời đó thậm chí còn gọi thuyền của Oa khấu là '''''Thuyền Bát Phiên'''''.</ref>. Chi Long đa tài đa nghệ, thông thạo khá nhiều ngôn ngữ như [[Nam Kinh quan thoại|tiếng Hoa vùng Nam Kinh]], [[tiếng Nhật]], [[tiếng Hà Lan]], [[tiếng Tây Ban Nha]] và [[tiếng Bồ Đào Nha]], còn nhiệt tâm ngày đêm ráng sức học tập [[kiếm thuật]]<ref>*[http://qzhnet.dnscn.cn/ 泉州歷史網Website Lịch sử Tuyền Châu]《泉州人名錄 ''Tuyền Châu nhân danh lục''. ''Trịnh Chi Long truyện'': một lòng quyết tâm học tập kiếm thuật.郑芝龙传》:一官热心学习剑术。</ref>, ngoài ra ông còn có khả năng tấu diễn thứ nhạc khí của người [[Tây Ban Nha]] là [[Guitar]].
Cha ông là [[Trịnh Thiệu Tổ]] (có thuyết nói là [[Trịnh Sĩ Biểu]]) là [[quan coi kho]] của [[tri phủ]] Tuyều Châu [[Sái Thiện Kế]]. Trịnh Chi Long có 3 người em trai là: [[Trịnh Chi Hổ]], [[Trịnh Chi Phụng]] (Trịnh Hồng Quỳ), [[Trịnh Chi Báo]]. Con là Trịnh Thành Công, được nhà [[Nam Minh]] phong làm [[Duyên Bình Quận Vương]], lấy [[Kim Môn]], [[Hạ Môn]] và [[Đài Loan]] làm căn cứ địa mưu phục hưng nhà Minh, bắt đầu mở ra [[thời kỳ Minh Trịnh ở Đài Loan]].
Năm [[1621]] (năm Thiên Khải nguyên niên đời [[Minh Hy Tông]]), Trịnh Chi Long tròn 18 tuổi, cùng người em trai tới [[Macao|Áo Môn]] ở tại nhà bác mình là [[Hoàng Trình]] để học tập việc buôn bán, cũng tại nơi đây, ông đã tiếp nhận lễ rửa tội cải sang đạo Thiên Chúa Giáo, được đặt tên thánh là '''Nicolas''', vì thế mà người [[Tây Dương]] gọi ông là '''Nicolas Iquan'''.
Trịnh Chi Long bắt đầu khởi hành đi khắp các nước ở vùng [[Đông Nam Á]] để xúc tiến viện buôn bán, trao đổi hàng hóa với người bản địa, về sau ông tới đảo [[Kyushu]] (Cửu Châu) của Nhật Bản, dừng chân tại đây kết hôn với [[Tagawa Matsu]], con của người thợ rèn Hoa kiều di cư từ Tuyền Châu, Phúc Kiến Trung Quốc tới Hirado là [[Ông Dực Hoàng]] <ref>*[http://qzhnet.dnscn.cn/ 泉州歷史網Website Lịch sử Tuyền Châu]《泉州人名錄 ''Tuyền Châu nhân danh lục''. ''Trịnh Chi Long truyện'': bèn ra sức quyết tâm học tập kiếm thuật, nhận thức rằng chủ ấp rèn đao kiếm, lập nghiệp người thợ rèn họ Ông ở Tuyền Châu.郑芝龙传》:一官还热心学习剑术,认识为「邑主锻刀剑」起家的「泉州冶工翁姓者」。</ref>.
 
Ở [[Nagasaki]] ([[Nhật Bản]]), ông nhận làm thuộc hạ cho một thương gia kiêm hải tặc lớn [[người Hoa]] là [[Lý Đán (hải tặc)|Lý Đán]], bắt đầu đảm nhiệm công việc [[phiên dịch]] với người Hà Lan sau khi lực lượng quân sự của [[Công ty Đông Ấn Hà Lan]] xâm chiếm quần đảo [[Bành Hồ]] tại [[eo biển Đài Loan]] vào năm [[1622]]. Kể từ đấy, ông trở thành trợ thủ đắc lực nhất của Lý Đán, mối quan hệ thân mật của họ phát triển thành [[đồng tính luyến ái]]<ref>張遴白《難遊錄》:「芝龍少年姣好,以龍陽事之。」Trương Lân Bạch, ''Nan du lục'': ''Chi Long thiếu niên kiều hảo'': lấy việc Long Dương mà làm.</ref>, năm 1623, Lý Đán mất vì bạo bệnh, Trịnh Chi Long chính thức tiếp quản hạm đội tàu thuyền của Lý Đán, tiến hành và phát triển việc [[buôn lậu]], vào thời gian này, vợ ông hạ sinh đứa con trai đầu lòng tại Hirado, Nagasaki, đặt tên là Trịnh Thành Công.
 
Năm [[1624]], sau [[Trung Thu]], Trịnh Chi Long khởi hành từ đảo Kyushu, Nhật Bản đến Đài Loan<ref>鄭芝龍的據點所在有兩種說法,一為Cứ điểm sở tại của Trịnh Chi Long có hai giả thiết, một là Bổn Cảng (nay là vùng phụ cận thị trấn [[笨港Bắc Cảng]](今); hai là Võng Cảng (nay là vùng phụ cận thị trấn [[北港鎮Kim Bố]]附近);另一為魍港(今[[布袋鎮]]附近),參見黃阿有,〈顏思齊鄭芝龍入墾臺灣之研究〉《臺灣文獻》,54卷), xem thêm Hoàng A Hữu, ''Nghiên cứu việc khai khẩn Đài Loan của Nhan Tư Tề, Trịnh Chi Long'' đăng trong tạp chí ''Đài Loan văn hiến'', số 4 quyển 54.</ref>, nương tựa vào thủ lĩnh [[Oa Khấu]] (cướp biển Nhật Bản, hoành hành và cướp bóc các vùng ven biển Trung Quốc vào thế kỷ 16, 17) là [[Nhan Tư Tề]], nhằm dự định phát triển sự nghiệp tại hòn đảo này, ông đã cho tiến hành xây dựng mười tiền đồn ở vùng ven biển tây nam Đài Loan, vị trí nằm giữa [[Đài Nam]] và [[Gia Nghĩa]], tuy nhiên sau khi Công ty Đông Ấn Hà Lan đổ bộ lên hòn đảo này, đã ra lệnh trục xuất và dẹp tan các thế lực cát cứ tại đây, Trinh Chi Long bèn cùng vợ con vượt biển sang định cư ở đại lục Trung Quốc.
 
Năm [[1625]], thủ lĩnh Nhan Tư Tề chết, Chi Long cho tập hợp các thủ lĩnh hải tặc lại, thành lập tổ chức cướp biển vũ trang mang tên [[Thập Bát Chi]] (lực lượng bao gồm quân của 18 tên cướp biển khét tiếng người Hoa), phát triển trở thành một tập đoàn cướp biển hung bạo và lớn mạnh nhất ở tỉnh Phúc Kiến, chuyên buôn lậu và cướp phá, hoành hành dọc ven biển miền nam Trung Quốc và eo biển Đài Loan lúc bấy giờ. Một thành viên trong đó là [[Thi Đại Tuyên]], cha của danh tướng [[Thi Lang]] sau này, [[tri huyện]] [[Đồng An]] phủ Tuyền Châu đương thời đã viết một bức thư cho [[tuần phủ]] Phúc Kiến trong đó kể lại Trịnh Chi Long tuy chuyên việc cướp phá các nơi, nhưng đối với trăm họ ở Tuyền Châu thì ông không những không giết người, cướp bóc mà trái lại thường xuyên cứu giúp người nghèo khổ, bệnh tật ở đây, tặng gạo, tiền cho họ khiến cho danh tiếng của ông vang xa khắp nơi.
Ngày [[22 tháng 10]] năm [[1633]], Trịnh Chi Long xuất quân đánh bại hạm đội tàu chiến của [[Công ty Đông Ấn Hà Lan]] tại trận [[hải chiến Kim Môn]], từ đó mà khống chế đường biển, tiến hành thu nạp lộ phí các thương thuyền của các nước qua lại buôn bán. Cũng vì thế mà Trịnh Chi Long ngày càng giàu có gấp bội, nghiễm nhiên tự xưng là [[lãnh chúa]] [[Mân Nam]] và bá chủ trên biển, trước đây, mỗi khi một đoàn thương thuyền nào đi ngang qua lãnh hải của Trịnh Chi Long đều phải nộp phí bảo vệ rất tốn kém (một con tàu lớn phải nộp số tiền là ba ngàn hai trăm lượng bạc, tàu nhỏ thì tùy từng nơi sẽ có cách thu phí khác nhau), dẫn đến việc thương mại trên biển giảm sút, nhằm thay đổi tình hình ảm đạm đó, họ Trịnh cấp cho những tàu buôn này một lá cờ lệnh, khi đi qua vùng biển thuộc sự kiểm soát của họ Trịnh thì không cần phải nộp phí, đảm bảo cho họ không bị cướp bóc và cống nạp phiền phức, còn các tàu thuyền khác không có cờ lệnh thì theo lệ hàng năm đều phải nộp một số tiền lớn để được thông quan buôn bán, tuy vấp phải sự cạnh tranh dữ dội từ phía Công ty Đông Ấn Hà Lan, nhưng Trịnh Chi Long đã sớm bành trướng, phát triển thế lực của mình ngày một lớn mạnh, liên tiếp đánh bại nhiều đợt tấn công của người Hà Lan, khiến họ phải chấp nhận uy quyền và khu vực thống trị của ông.
 
Phạm vi [[thương mại]] của Trịnh Chi Long rất lớn bao gồm các khu vực ở vùng [[biển Đông]] và [[Đông Nam Á]], [[Nam Á]] như: [[Ấn Độ]], [[Nepal]], [[Champa]], [[Luzon]], [[Hong Kong]], [[Pak Kong]], [[Đài Loan]], [[Hirado]], [[Nagasaki]], [[Bombay]], [[Banten]], [[Old Port]], [[Badaweiya]], [[Ma Rokko]], [[Campuchia]], [[Xiêm La]], người ta ước tính rằng quân đội của họ Trịnh có rất nhiều sắc dân khác như [[người Hán]], [[người Nhật Bản]], [[người Triều Tiên]], [[người da đen]] [[châu Phi]] và người vùng [[Nam Đảo]] tổng cộng có đến hai mươi triệu người trong quân đội, với hơn ba nghìn tàu thuyền lớn, được coi là thế lực mạnh nhất trong khu vực Biển Đông và Nam Trung Hoa đương thời.<ref>[http://ltrc.tnc.edu.tw/modules/tadbook2/view.php?book_sn=1&bdsn=133 台南縣鄉土教學;鄭氏海上勢力的崛起Việc dạy học đất làng huyện Đài Nam; sự trỗi dậy thế lực trên biển của họ Trịnh]</ref><ref>[http://blog.ilc.edu.tw/ilan/blog/1/post/21/184 宜蘭市鄉土史地實踐社群Quần xã thực hiện lịch sử địa phương đất làng thành phố Nghi Lan]</ref>
 
Trong nhiên hiệu [[Thiên Khải]], [[Sùng Trinh]], tập đoàn [[Lưu Hương]] (là thủ lĩnh chỉ huy tập đoàn hải tặc vũ trang từng là anh em kết nghĩa khác của Trịnh Chi Long trước khi ông tuyên thệ nhậm chức) ở Hải Trừng cướp bóc thương thuyền, ngày càng rông càn, họp bọn vài ngàn người, thuyền bè lớn nhỏ có hơn trăm chiếc, giết hại quan quân, hoành hành ở một dải Việt Đông, Kiệt Thạch, Nam Úc, về sau họp bọn cả vạn người, dẫn hơn trăm chiến thuyền hoành hành trên biển.
 
Ngay sau đó, Trịnh Chi Long thỉnh cầu triều đình nhà Minh cho mình xuất binh thảo phạt Lưu Hương, trải qua vài trận đánh dữ dội, cuối cùng ông cũng giành được toàn thắng tại [[Hổ Môn]], danh tiếng vang chấn toàn Phúc Kiến, được triều đình thăng lên chức [[Tổng đốc]], tuy nhiên ở tỉnh Phúc Kiến lại đột ngột phát sinh hạn hán gây ra nạn đói lớn trên toàn tỉnh, Trịnh Chi Long đề nghị thuyên chuyển nhiều dân đói và di dân qua Đài Loan để tránh bất ổn lâu dài, lại còn cung cấp kinh phí hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người di cư sang lập nghiệp<ref>根據Căn cứ vào ghi chép của [[黃宗羲Hoàng Tông Hy]]《賜姓始末》記載,「崇禎間,熊文燦撫閩,值大早,民饑,上下無策;文燦向芝龍謀之。芝龍曰:『公第聽某所為?』文燦曰:『諾』。乃招飢民數萬人,人給銀三兩,三人給牛一頭,用海舶載至台灣,令其開墾荒土為田。」然而學者方豪認為,「假定『數萬』饑民為三萬,需銀九萬兩;三人一牛,則須牛一萬頭,在大旱之後,地方無法籌此巨款,運輸亦感困難,大饑之時,飼料亦成問題。或許鄭芝龍有此建議,熊文燦亦深表贊成,而實際則僅運出一部份饑民而已。」見方豪,民八十三年,《臺灣早期史綱》,頁 trong sách ''Tứ tính thủy mạt'', thời [[Sùng Trinh]], [[Hùng Văn Xán]] phủ dụ xứ Mân, đang gặp phải hạn lớn, dân đói đầy đồng, trên dưới vô sách, Văn Xán nghe theo kế sách của Chi Long, Chi Long viết: ''Công Đệ thấy ý mỗ ra sao?''; Văn Xán viết: ''Được !'' , xong bèn chiêu dụ vạn người dân đói, cấp cho mỗi người ba lượng bạc, ba người được cấp một đầu trâu, dùng thuyển vượt biển chở tới Đài Loan, ra lệnh khai khẩn đất hoang thành ruộng, nhưng mà theo học giả [[Phương Hào]] nhận xét rằng, giả định số dân đói là ba vạn, dùng chín vạn lượng bạc; ba người một con trâu, cần tới một vạn đầu trâu, từ sau đại hạn, địa phương không thể nào lấy đâu ra số lượng lớn ấy, việc vận chuyển, thâu nạp đều gặp khó khăn, lúc mất mùa lớn, kiếm được thức ăn chăn nuôi cũng là một vấn đề. Hoặc nghe Trịnh Chi Long có kiến nghị này, Hùng Văn Xán đều tỏ vẻ tán thành, nhưng trên thực tế chỉ lấy một số ít để chở ra cho một bộ phận dân đói mà thôi; đây là ý kiến của Phương Hào vào năm [[Dân Quốc]] thứ 83 trong cuốn ''Đài Loan tảo kỳ sử cương'', trang 152-153。台北:台灣學生書局。. [[Đài Bắc]]: Đài Loan học sinh thư cục.</ref>. Một số người cho rằng nó đã tạo ra một tiền lệ cho việc di dân với quy mô lớn sang Đài Loan<ref>曹树基中国移民史Tào 第六卷(清民国时期)Thụ Cơ, ''Trung Quốc di dân sử'', tập 6 (Thời kỳ nhà Thanh, Dân Quốc).福州 Phúc Châu:福建人民出版社 Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã, 1997,P319 trang 319.</ref><ref>[http://dspace.xmu.edu.cn:8080/dspace/handle/2288/649 厦门大学学术典藏库Hạ Môn đại học học thuật điển tàng khố:明清时期台湾汉族移民及其族群文化 廖杨Di dân Hán tộc Đài Loan thời kỳ Minh Thanh đến văn hóa tộc quần Liêu Dương, tháng 2004-8, 2004.]</ref>, một số học giả thì tỏ ý nghi ngờ vì không có bằng chứng nào có sức thuyết phục cho thấy các đề xuất này được thực hiện<ref>Nguyên tác Tonio Andrade原著,鄭維中譯,《福爾摩沙如何變成臺灣府》,頁, Trịnh Duy Trung dịch, ''Formosa biến thành phủ Đài Loan như thế nào'', trang 225-226.</ref>.
 
[[Đài Loan]] có đất đai khá phì nhiêu cộng với tình hình chiến tranh, loạn lạc liên miên cuối thời Minh đã dẫn đến làn sóng di dân [[người Hán]] với số lượng lớn từ đại lục [[Trung Quốc]] vượt [[biển]] sang hòn đảo này, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, người nhập cư được tổ chức với quy mô lớn di cư từ đại lục sang Đài Loan. Khi Công ty Đông Ấn Hà Lan cai trị ở miền nam Đài Loan, các quan chức cấp cao định cư ở vị trí nay là Đài Nam đã cho xây dựng hai thành trì khá kiên cố là [[Zeelandia]] và [[Provintia]], chỉ có gần hai ngàn quân đồn trú, nhưng đã có đến hàng chục ngàn người Hoa nhập cư từ đại lục sang<ref>[http://www.cna.com.tw/ShowNews/Detail.aspx?pSearchDate=&pNewsID=200902150055&pType0=EDU&pType1=DD&pTypeSel=0 風力台灣船Phong Lực, Thuyền Đài Loan - vũ khí sắc bén duyên hải tung hoàng Trung Quốc thế kỷ 17世紀縱橫中國沿海利器]</ref>. Thêm vào đó công việc thương mại ở [[Nhật Bản]] bị hạn chế do chính sách [[bế quan tỏa cảng]] do chính quyền [[Mạc Phủ]] ban hành, chỉ cho phép buôn bán với thương thuyền của Trung Quốc và [[Hà Lan]], Trịnh Chi Long nhờ được quyền buôn bán với Nhật Bản, mà giàu lại càng giàu hơn nữa, gây dựng được cơ nghiệp lớn.
 
Năm [[1644]] (năm Sùng Trinh thứ 17, [[Thanh Thế Tổ]] [[Thuận Trị]] nguyên niên), vua [[Hoằng Quang]] nhà Nam Minh sách phong Trịnh Chi Long là [[Nam An Bá]], [[tổng trấn]] Phúc Kiến, phụ trách công việc quân sự chống quân Thanh ở toàn tỉnh Phúc Kiến.
 
===Đầu hàng nhà Thanh===
Năm [[1646]] (Thuận Trị thứ 3), TrịnhChi Long cảm thấy tình hình bất lợi, quyết định không tiếp tục hỗ trợ cho chính quyền vua Long Vũ nhà Nam Minh, phái người sang đàm phán với [[nhà Thanh]] về việc đầu hàng, sau đó cùng bọn thuộc hạ tâm phúc ở phía bắc sang đầu hàng nhà Thanh, vợ và con trai Trịnh Chi Long là Trịnh Thành Công đã cố găng ngăn cản việc đầu hàng của cha nhưng không thành công, bèn tới [[miếu Khổng Tử]] khóc lớn, rồi cho đốt áo nhà nho, dẫn toàn bộ gia tướng và binh lính vượt biển , tiếp tục công cuộc chống Thanh. Cùng năm, quân Thanh chiếm được Phúc Kiến, bắt sống vua Long Vũ Chu Duật Kiện, Long Vũ quyết không chịu nhục bèn tuẫn quốc, chính quyền Long Vũ diệt vong. [[Dương Phụng Bao]] nói "''Phúc Kinh thất thủ, lỗi đều do Trịnh Chi Long mà ra''"<ref>''[[南疆繹史Nam Cương dịch sử]]》跋四'', bạt tứ</ref>.
 
Tuy Trịnh Chi Long đã đầu hàng nhà Thanh, nhưng lại từ chối cùng [[Bối Lặc]] [[Bác Lạc]] nam chinh theo như thỏa thuận, nên bị chuyển đến kinh sư và nhập vào biên chế [[Hán quân chính hồng kỳ]], tháng 8 năm [[1648]] (năm Thuận Trị thứ 5), vì có công quy thuận nên được phong là [[Tinh Kỳ Ni Cáp Phiên]].
Năm [[1660]] (năm Thuận Trị thứ 17), [[Tuần phủ]] Phúc Kiến [[Đồng Quốc Khí]] tâu rằng Trịnh Chi Long cùng con là Trịnh Thành Công lén lút liên lạc cá nhân. [[Hội nghị Đại thần Nghị Chính vương]] quyết định nghị luận ghép ông tội danh tư thông bên ngoài (Thông Hải), sau đó đày cả nhà Chi Long đến Ninh Cổ Tháp chờ xử tử.
 
Tháng 10 năm [[1661]] (năm Thuận Trị thứ 18), vua Thuận Trị băng hà, [[Phụ chính Đại thần]] [[Tô Khắc Tát Cáp]] ra lệnh chém đầu Trịnh Chi Long cùng thân tộc tại [[Sài Thị]] ở kinh sư<ref>[[夏琳Hạ Lâm]], ''[[閩海紀要Mân Hải kỷ yếu]]》:「(芝龍)十月初三日斬於燕京之柴市,子孫在京者皆與焉。」'': (Chi Long) ngày 3 đầu tháng 10, bị chém tại Sài Thị ở Yên Kinh, con cháu tại kinh sư cũng vậy.</ref><ref>[[連橫Liên Hoành]], ''[[臺灣通史Đài Loan thông sử]]》:十月,清廷棄芝龍於柴市,子孫在北京者皆被殺。'': Tháng 10, Thanh đình giải Chi Long tới Sài Thị, con cháu tại [[Bắc Kinh]], cả thảy đều bị giết chết.</ref>. Năm đó ông mới 58 tuổi.
 
==Trong văn học nghệ thuật==