Khác biệt giữa các bản “Cầu Thuận Phước”

 
- dự định sẽ khành thành vào ngày [[30 tháng 4]] năm [[2009]] để mừng kỷ niệm giải phóng miền nam thống nhất đất nước nhưng tiến độ bị giảm vì những khó khăn từ lớp đất bên dưới lòng cửa sông nên cầu khánh thành vào ngày [[19 tháng 7]] năm [[2009]].
 
== '''Công Nghệ''' ==
- Cầu bê-tông cốt thép dự ứng lực (DƯL) Thuận Phước có tổng chiều dài 1.200m. Cầu được thiết kế 12 trụ, gồm 2 dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL M500 song song, mỗi dầm hộp có bề rộng mặt 9m, chiều cao dầm 2,5m. Điểm qua các CNTC để chúng ta hiểu hơn ngoài các nguyên nhân khách quan khiến thời gian thi công kéo dài 7 năm, thì việc áp dụng một công nghệ xây cầu hiện đại, phù hợp với địa hình và khí hậu là một nỗ lực rất lớn của đội ngũ kỹ sư, công nhân xây cầu.
CNTC phải kể đến đầu tiên là đổ bê-tông dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL khối lớn: Cầu dầm hộp bê-tông cốt thép DƯL Thuận Phước có khối lượng bê-tông mỗi lần đổ từ 250m3 (đối với đoạn 40m) đến 350m3 (đối với đoạn 60m). Công nghệ đổ bê-tông trên đà giáo được áp dụng giống công nghệ cầu Cần Thơ nhưng cầu Thuận Phước có chiều dài nhịp lớn hơn. Trong từng đợt bê-tông được bơm đổ theo phương pháp cuốn chiếu cho toàn bộ chiều dài 60m. Bê-tông được phân thành từng lớp dày từ 20 - 30cm, chiều dài đoạn đổ phân lớp từ 15 - 20m.
Một vấn đề thi công gặp rất nhiều khó khăn cần nhắc đến ở cầu Thuận Phước là công nghệ khoan cọc nhồi đường kính lớn đến 2,5m; thi công giếng chìm và bịt đáy giếng chìm khiến thời gian kéo dài. Cầu có 22 cọc chia cho 2 trụ tháp với đường kính cọc 2,5m, với chiều sâu từ 50 – 60m, âm trong đá gốc 2,5 – 5,0m. Quá trình thi công ở tầng địa chất phức tạp, nước sâu và chảy xiết nên công ty thi công phải sử dụng sà lan, xe cẩu lớn, khung vây và hệ sàn đạo ổn định. Thiết bị khoan rất hiện đại nhưng không thể thực hiện được (do sập thành vách, phá mũi, gãy cần). Sau một thời gian tìm kiếm thiết bị của nhà thầu, cuối cùng máy khoan RCD (ANY) cùng đội ngũ chuyên gia từ Hàn Quốc qua Việt Nam để tham gia khắc phục khó khăn này.
Ngày 14-9-2004, cọc khoan nhồi đầu tiên đã được đổ bê-tông. Theo các kỹ sư thi công, đây là khu vực có địa chất phức tạp, tầng đá cứng nứt nẻ đã gây không ít khó khăn trong việc vệ sinh và bơm vữa mũi cọc, khi thổi vữa cát và đá cuội nhỏ cứ theo nhau đi lên; có cọc công tác thổi rửa vệ sinh mũi cọc tới 10 ngày và khối lượng vữa bơm vào cũng gấp 3-4 lần khối lượng tính toán. Cuối cùng toàn bộ hệ cọc khoan nhồi cũng hoàn thành ngày 31-8-2005.
Giếng chìm là một dạng CNTC mới của ngành Cầu đường Việt Nam. Nhưng giếng chìm cầu Thuận Phước phức tạp hơn nhiều do các bước lắp ghép vỏ thép có kích thước lớn phải dùng cẩu lớn, tay nghề cơ khí cao. Việc hạ giếng chìm ở các đốt từ 1 đến 4 (khoảng 23m) diễn ra suôn sẻ. Nhưng đến đốt thứ 5, mỗi ngày chỉ thi công được khoảng 10cm, và đến đốt 6 giếng chìm hoàn toàn đứng yên, bởi vì đáy giếng chìm đã vào tầng sét.
Vậy là phải dừng lại để nghiên cứu phương án mới. Mẫu địa chất ở đây là lớp đất sét có tính chất rất đặc biệt (liên kết rất chặt, khi lấy ra ngoài cứng và rắn chắc giống như đá phong hóa). Nhà thầu đã cử 30 thợ lặn sử dụng máy cắt sét áp lực cao để bắn phá, ngày đêm lặn hụp dưới đáy giếng di chuyển từng mảng sét lên bờ. Phương án thi công này mất gần một năm trời.
Khi giếng chìm đã ổn định, phương án bịt đáy bắt đầu tiến hành thi công. Phương án đổ bê-tông bịt đáy được chia ra làm 8 lần đổ theo phân ô của giếng chìm, khối lượng cho một lần đổ khoảng 800m3. Phải lắp đặt ván khuôn vách ngăn ở độ sâu -37,5m dưới nước để ngăn ra thành ô. Việc lắp đặt vách ngăn sau khi quan trắc đã chính xác và đạt được độ ổn định khi áp lực bê-tông đạt đến bề dày 4,5m cho ô giếng.
Ở Việt Nam, cầu Thuận Phước là cây cầu dây võng đầu tiên với dầm hộp thép được cấu tạo dạng bản trực hướng, tổng cộng 69 đốt dầm, tổng chiều dài 655m. Theo dự kiến thiết kế ban đầu, lớp phủ mặt thép sẽ dày 7cm bằng bê-tông nhựa thông thường. Nhưng trong quá trình kiểm tra thử nghiệm, phương án này không phù hợp với đặc điểm công trình.
Do kết cấu cầu Thuận Phước là cầu có dầm thép hộp, vào mùa hè, hơi nóng tích lại bên trong dầm hộp kín, làm nhiệt độ của lớp mặt gia tăng. Lớp vật liệu bê-tông nhựa có thể bị mềm, giảm tính năng dính bám cũng như sức chống cắt, dễ dẫn đến hiện tượng trượt tách mặt đường, xô dồn nhựa và biến dạng lún vệt bánh xe. Yêu cầu kỹ thuật là lớp phủ phải có hệ số biến dạng cùng loại thép. Sau một thời gian tiến hành đo nhiệt độ thực tế, chọn mẫu thử đưa đến các phòng thí nghiệm ở Singapore, nhà thầu đã lựa chọn vật liệu là hỗn hợp SMA (sợi khoáng cenlulo, hàm lượng nhựa cao 6,5-7%) và vật liệu bê-tông nhựa Epoxy; bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật cho bản mặt cầu thép...
 
==Thông số==
22

lần sửa đổi