Khác biệt giữa các bản “Đạo đức với động vật”

(Đạo đức với động vật)
 
[[Tập tin:Bunny Cuddle.jpg|300px|nhỏ|phải|Một cảnh âu yếm với con [[thỏ nuôi]]]]
'''Đạo đức với động vật''' (''Animal ethics'') là một [[thuật ngữ]] được sử dụng trong giới [[hàn lâm]] để mô tả mối quan hệ với [[động vật]] của con người và cách đối xử của [[con người]] với các loài động vật. Các chủ đề trong thuật ngữ này bao gồm [[quyền động vật]], [[phúc lợi động vật]], [[luật động vật]], [[chủ nghĩa loài]], [[nhận thức ở động vật]], [[bảo tồn động vật hoang dã]], tình trạng đạo đức đối xử với động vật phi con người ([[đối xử nhân đạo với động vật]]), khái niệm phi nhân đạo, [[đạo đức với việc ăn thịt]], ngoại lệ của con người, lịch sử sử dụng động vật và lý thuyết về công lý, nói chung, những nội hàm này nhấn mạnh việc vì động vật là chính.
 
==Lịch sử==
Đạo đức động vật có thể được truy nguyên từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên theo lời dạy của [[Pythagoras]], người tin rằng linh hồn của con người tái sinh thành động vật, điều này cũng tương đồng với quan niệm "Kiếp" của Phật giáo ở châu Á. Ngày nay, các nước châu Âu đã đóng một vai trò hàng đầu trong việc cổ xúy phong trào nhận thức về đạo đức với động vật bởi những nhóm bảo vệ động vật đầu tiên, [[Hiệp hội phòng chống hành vi tàn ác đối với động vật]] (Society for the Prevention of Cruelty to Animals-SPCA) bắt đầu ở Vương quốc Anh vào năm [[1824]], sau đó, Tổ chức đầu tiên của Mỹ, Hiệp hội phòng chống tàn ác đối với động vật (American Society for the Prevention of Cruelty to Animals-ASPCA) bắt đầu thành lập ở New York vào năm [[1866]] và sau này là tổ chức [[Những người tranh đấu cho sự đối xử có đạo đức với động vật]] (People for the Ethical Treatment of Animals-PETA) cũng có những vai trò quan trọng.