Khác biệt giữa các bản “Mạng lưới nội chất”

không có tóm lược sửa đổi
Mạng lưới nội chất đảm nhiệm nhiều vai trò trọng yếu trong mỗi tế bào; và như đã đề cập chức năng, cấu trúc của mạng lưới này cũng thay đổi tùy theo từng loại tế bào.<ref name = "albert724">Albert et al., trang 724</ref><ref name = "albert725">Albert et al., trang 725</ref>
 
*'''Sinh tổng hợp protein và lipid''': Hệ thống mạng lưới nội chất tỏa rộng khắp tế bào đóng vai trò trung tâm trong việc sinh tổng hợp các [[protein]][[lipid]] cần thiết. Thật vậy, phần lớn các loại protein, xuyên[[lớp màng kép cáclipid]] cùng những loại lipid của phần lớn các bào quan - bao gồm cả [[bộ máy Golgi]], [[tiêu thể]], [[nội thể]], [[túi tiết]] và ngay bản thân mạng lưới nội chất - đều được sản sinh từ lớp màng của hệ thống mạng lưới này.<ref name = "albert724"/><ref name = "albert743">Albert et al., trang 743</ref><ref name = "albert745">Albert et al., trang 745</ref>
*'''[[Glycosyl hóa protein|Glycosyl hóa]] và cuộn gập các protein''': TấtPhần cảlớn các protein trước khi được chuyển đến đích cần phải trải qua quá trình [[glycosyl hóa]] để trở thành các [[glycoprotein]], đồng thời các protein phải được cuộn xoắn hình thành các liên kết disulfit đúng quy cách. Các [[enzyme]] nằm trên bề mặt trong của mạng lưới nội chất là nơisẽ đảm nhiệm việc này.thực Quáthi và kiểm tra các quá trình glycosylnày. hóaMạng tấtlưới nhiênnội chất cũng khôngchứa tránhcác khỏienzyme và protein có chức năng tống khứ các "sản phẩm" sai sóthỏng vào tế bảo chất để các [[tiêu thể]] xử lý; nếu số lượng protein sai hỏng tăng lên quá nhiều thì các thụ thể trong mạng lưới nội chất sẽ tựtruyền đàotín thảihiệu cácvề glycoproteinnhân ratế ngoàibào để tế bào chấtcó phản ứng đối phó thích hợp.<ref name = "albert736">Albert et al., trang 736</ref><ref name = "albert739">Albert et al., trang 739</ref><ref name = "albert740">Albert et al., trang 740</ref>
*'''Chuyển vận các chất''': mạng lưới nội chất là nơi đảm nhiệm quá trình trung chuyển các chất (nhất là protein) trong tế bào. Các loại protein cần thiết cho việc bài tiết và cho các bào quan đều được chuyển từ [[tế bào chất]] tới mạng lưới này để được trung chuyển tới đích. Như đã nói, vào cuối quá trình sinh tổng hợp protein tại [[ribosome]], protein sẽ được chuyển vận vào lưới nội chất thông qua ''quá trình chuyển dịch đồng dịch mã'' (co-translational translocation) và các phân tử protein, lipid đã được sinh tổng hợp sẽ được chuyển từ mạng lưới nội chất sang [[bộ máy Golgi]] tại các đoạn ''mạng lưới nội chất chuyển tiếp'' (transitional ER).<ref name = "albert724"/><ref name = "albert725"/>
*'''Vai trò trong bài tiết protein''': Một số protein nằm trong lớp màng của mạng lưới nội chất sẽ bị cắt bỏ phần nằm trong màng, phần còn lại sẽ được gắn vào một "cái neo" axít béo mang tên [[neo glycosylphospatidyl-inositol]] (neo GPI) cũng được gắn vào trong màng lưới nội chất. Phần màng này sẽ tách khỏi lưới nội chất và và hình thành một túi mang protein đến một vị trí nhất định trong tế bào (thường là tại màng tế bào hay màng của một bào quan) nhằm phản ứng với một kích thích mà tế bào nhận được. Phần neo GPI có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho túi protein tới vị trí đích đến.<ref name = "albert742">Albert et al., trang 742</ref>
*'''Dự trữ [[ion]] [[canxi|Ca]]<sup>2+</sup>''': Mạng lưới nội chất là nơi dự trữ các ion Ca<sup>2+</sup> dùng trong nhiều phản ứng đáp ứng quan trọng của tế bào trước các tín hiệu mà nó nhận được. Một bơm ion canxi đặc biệt sẽ có nhiệm vụ đưa Ca<sup>2+</sup> từ lưới nội chất vào tế bào chất<ref name = "albert910">Albert et al., trang 910</ref>. Nhằm lấp đầy các ion Ca<sup>2+</sup> hao hụt trong các phản ứng này, một bơm Ca<sup>2+</sup> đảm nhiệm vai trò đưa ion canxi ngược từ tế bào chất vào mạng lưới nội chất. Một số đoạn trong hệ thống lưới nội chất được thiết kế để chuyên đảm nhiệm vai trò dự trữ các ion Ca<sup>2+</sup>, tỉ như các [[lưới cơ tương]] trong các [[tế bào cơ]].<ref name = "albert725"/>
 
==Chú thích==