Khác biệt giữa các bản “Vympel R-23”

Loại tên lửa với tên gọi '''R-23''', bắt đầu phục vụ vào [[tháng 1]]-[[1974]], phiên bản SARH có tên gọi la '''R-23R''', phiên bản IR là '''R-23T'''. Ở phương Tây họ biết đến với tên gọi '''AA-7A''' và '''AA-7B''' tương ứng từng phiên bản. Một phiên bản huấn luyện là '''R-23UT''' cũng được phát triển.
 
Cả 2 phiên bản SARH và IR đều sử dụng động cơ và đầu nổ giống nhau, nó có bán kính nổ là m (26 ft). Nó có 4 [[cánh tam giác]] được xếp như chữ thập ở đằng sau điểm giữa thân, và những cánh tam giác nhỏ điều khiển ở phía sau cánh chính. Một cụm nhỏ có hình tam giác ở bề mặt ở gần mũi (mục đích của nó không rõ ràng). Sự khác nhau bề ngoài suy nhất giữa 2 phiên bản là hình nón mũi, đây là chỗ đặt hệ thống tìm kiếm dẫn đường SARH, và nó ngắn hơn 30 cm so với phiên bản IR.
 
Tầm bắn cực đại hiệu quả cho R-23R là khoảng 14 km (8.8 mi) tại độ cao thấp và 25 km 15.6 mi) trên độ cao lớn. Tầm bắn của R-23T là khoảng 11 km (6.9 mi), bị giới hạn bởi phạm vi tầm nhìn của hệ thống dẫn đường tìm kiếm, không phải do motor.
 
Một số lượng lớn R-23 đã được sản xuất, trong đó [[Molniya]] (OKB-4) cũng chế tạo như [[Vympel]] (OKB-134). R-23 đã được cấp giấy phép chế tạo tại [[Romania]] với tên gọi '''A-911'''.
 
Vào năm [[1975]], một phiên bản cải tiến của R-23 được phát triển để sử dụng trên [[MiG-23|MiG-23ML/MLD]]. Phiên bản SAHR '''R-24R''' có thể khóa mục tiêu sau khi phóng và tầm bắn được mở rộng (tăng lên 50 km) và độ cao đạt được cũng được nâng lên (25,000 m/82,000 ft), trong khi phiên bản '''IR''' R-24T có một thiết bị tìm kiếm hết sức nhạy cảm. Cả 2 phiên bản có động cơ motor lớn, một đầu nổ lớn. Chúng được chính thức biết đến với tên gọi zdeliye (sản phẩm) 140 và 160 ở [[Liên Xô]], '''AA-7C''' và '''AA-7D''' ở phương Tây.
 
R-24 hoạt động với số lượng giới hạn khi [[MiG-23]] về hưu vào năm [[1997]].
 
==Thành tích==