Khác biệt giữa các bản “Chủ nghĩa cộng sản”

n
replaced: → (4) using AWB
n (Đã thay đổi mức khóa của “Chủ nghĩa cộng sản” ([Sửa đổi=Chỉ cho phép các thành viên kỳ cựu và bảo quản viên] (hết hạn 16:43, ngày 13 tháng 2 năm 2020 (UTC)) [Di chuyển=Cấm mọi thành viên (trừ bảo quản viên)] (vô thời hạn)))
n (replaced: → (4) using AWB)
Sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai|đại chiến thế giới lần thứ hai]] hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (các nước phương Tây gọi là các nước cộng sản) hình thành. Phong trào cộng sản lan rộng ra cả Mỹ Latin, châu Phi... Nhiều đảng chịu ảnh hưởng của [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]] hay [[Mao Trạch Đông]] (không kể các đảng của nhóm Đệ Tứ). Trong khi đó nhiều đảng (phần lớn ở phương Tây) bị xem là theo [[chủ nghĩa xét lại]]. Tuy nhiên sự phân hóa lớn nhất giữa những người cộng sản là một số ủng hộ Liên Xô và một số ủng hộ Trung Quốc. Tình trạng này tồn tại cho đến khi Liên Xô sụp đổ.
 
Cuộc đấu tranh giữa hai hình thái "[[tư bản]]" và "cộng sản" là cuộc đấu tranh khốc liệt của nhân loại trong thế kỷ XX. Ban đầu vì sự mới mẻ của ý tưởng và vì những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật đặc trưng của thời kỳ đó mà chủ nghĩa xã hội đã thắng thế ở phạm vi lớn trên toàn cầu. Cuộc đấu tranh của hai phe là nguyên nhân chính của các sự kiện trên thế giới vào giữa thế kỷ XX. Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã biết tự điều chỉnh, học hỏi các chính sách từ chính đối thủ và giành được ưu thế trên thế giới vào cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, sự xuất hiện của các phong trào cộng sản chủ nghĩa đã tạo áp lực buộc các quốc gia có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phải có các biện pháp tự điều chỉnh để giảm bớt đối kháng xã hội như tăng lương, giảm giờ làm, mở rộng [[an sinh xã hội]], công hữu hóa một số lĩnh vực kinh tế... Nhiều biện pháp cải cách kinh tế - xã hội do [[Karl Marx|Marx]] và [[Friedrich Engels|Engels]] đề xuất trong [[Tuyên ngôn của Đảng cộng sản]] như "''áp dụng thuế luỹ tiến cao''", "''tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước''", "''tăng thêm số công xưởng nhà nước''", "''giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em''", "''xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng''"...<ref name="manifesto"/> đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nhân tố của chủ nghĩa cộng sản tồn tại khắp mọi nơi trong thế giới hiện đại. Những ý tưởng của Marx và Engels đã góp phần kiến tạo nên xã hội hiện đại, định hình [[nhà nước phúc lợi]] phương Tây hiện nay. Do vậy có thể nói chính chủ nghĩa cộng sản đã tác động lại, thay đổi tự bản thân chủ nghĩa tư bản, dung hòa một phần các yếu tố tiến bộ của chủ nghĩa cộng sản vào trong lòng nó.
 
Một trong những minh chứng cho thấy sự dung hòa của 2 lực lượng này là quá trình tư hữu hóa tư liệu sản xuất, phát triển các mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa đa dạng ở một loạt các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các quốc gia theo [[chủ nghĩa xã hội]]. Ngược lại, ở các quốc gia tư bản cũng xuất hiện một số hình thức công hữu, như các công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công cộng và các ngành sản xuất độc quyền tự nhiên. Đặc biệt là sự phát triển và thắng thế của hình thức [[công ty cổ phần]] tại các nước tư bản, mà theo Marx nhận xét: ''"Trong công ty cổ phần, chức năng đã tách khỏi quyền sở hữu tư bản, lao động cũng đã hoàn toàn tách khỏi quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền sở hữu lao động thặng dư. Kết quả sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến cực độ là điểm quá độ phải trải qua, đề tư bản lại chuyển hoá thành sở hữu của người sản xuất, song lúc đó nó không còn là tài sản tư hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, mà là tài sản chung của những người cùng sản xuất, là tài sản xã hội trực tiếp".''<ref>Tư bản luận, quyển 3, trang 502</ref> Nói ngắn gọn, công ty cổ phần ra đời là bằng chứng của sự xã hội hóa tư liệu sản xuất khiến sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện nhân tố xã hội chủ nghĩa khi sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất đã biến thành sở hữu tập thể.
Theo Marx tư bản là một lực lượng xã hội "''Tư bản là một sản phẩm tập thể và nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của nhiều thành viên trong xã hội, xét đến cùng, là nhờ sự hoạt động chung của tất cả các thành viên trong xã hội. Vậy tư bản không phải là một lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã hội.<ref name="manifesto"/>"'' nên tư bản cần được xã hội kiểm soát bằng một hình thức sở hữu tập thể. Marx lập luận ''"nếu tư bản biến thành sở hữu tập thể thuộc tất cả mọi thành viên trong xã hội thì đó không phải là một sở hữu cá nhân chuyển thành sở hữu xã hội. Chỉ có tính chất xã hội của sở hữu là thay đổi thôi. Sở hữu mất tính chất giai cấp của nó.<ref name="manifesto"/>''". Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn, hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến toàn thể xã hội do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải được quản lý, điều tiết bởi một tổ chức hoạt động vì lợi ích xã hội chứ không phải vì lợi ích của cá nhân sở hữu doanh nghiệp.
[[Tập tin:MandK Industrial Revolution 1900.jpg|nhỏ|trái|250px|Marx tin rằng công nhân công nghiệp sẽ nổi dậy khắp thế giới để xây dựng một xã hội nhân văn và hợp lý hơn]]
Không chỉ lao động bị tha hóa<ref name="marx120121">Tuyển tập Mác - Ăng-ghen, quyển 1, trang 120-121, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980</ref>, nền kinh tế tư bản cũng khiến cả nhà tư bản và người công nhân bị tha hóa.<ref name="marx120121"/><ref>[https://plato.stanford.edu/entries/alienation/#EsseHumaNatu Alienation], Stanford Encyclopedia of Philosophy</ref> Nhà tư bản trở thành kẻ chỉ biết chạy theo lợi nhuận còn công nhân phải hy sinh những năng khiếu, sở trường của mình cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Do đó giai cấp công nhân phải vùng lên dùng [[bạo lực cách mạng]] để giành lấy phương tiện sản xuất nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản xuất tập trung xã hội hóa cao độ và sở hữu tư nhân đồng thời giải phóng giai cấp mình và toàn bộ nhân dân lao động lẫn giai cấp tư sản khỏi sự tha hóa do chủ nghĩa tư bản mang đến. Đó là [[cách mạng vô sản]]. Quan điểm đấu tranh giai cấp, dùng bạo lực làm cách mạng giành chính quyền để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn của Marx được kế thừa từ những cuộc cách mạng ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ trong thời đại của ông. Tuy nhiên, ông cũng không loại trừ khả năng giai cấp vô sản có thể giành chính quyền thông qua các biện pháp chính trị và đàm phán (nếu có những điều kiện thuận lợi).
 
Sau khi giành được chính quyền bằng cuộc cách mạng vô sản thì sở hữu phương tiện sản xuất sẽ là sở hữu toàn dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ thay mặt nhân dân điều hành sản xuất và nắm quyền sở hữu này vì nhà nước bây giờ là nhà nước của toàn dân. Trong xã hội đó con người làm việc theo năng lực hưởng thụ theo lao động. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của [[nền sản xuất xã hội chủ nghĩa]] thì chức năng của nhà nước ngày càng suy giảm, sự tự giác của nhân dân ngày càng cao và đến lúc đó sẽ xuất hiện xã hội phi giai cấp, không còn mâu thuẫn đối kháng dẫn đến sự tự tiêu vong của nhà nước, sẽ xuất hiện một xã hội mà ở đó nguyên tắc phân phối của cải sẽ là ''"Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu"'' đó là chủ nghĩa cộng sản.
Trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội, cũng giống như chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao cũng theo phương châm tập trung hoá cao độ theo nền kinh tế kế hoạch hoá vĩ mô. Quản lý nhà nước cũng bằng hệ thống nhà nước - đảng với sự sùng bái cá nhân cao độ. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 (1953-1957), Trung Quốc lấy xây dựng và phát triển [[công nghiệp nặng]] làm trung tâm, gồm những ngành điện lực, than, gang thép, hóa chất… Với sự giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, 246 công trình công nghiệp quan trọng, được coi là xương sống của nền công nghiệp Trung Quốc được xây dựng. Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%. Đến năm 1957, sản lượng công nghiệp đã tăng 140%, sản lượng nông nghiệp tăng 25% so với năm 1952. Thành công của Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 khiến Mao Trạch Đông trở nên lạc quan quá mức. Với mong muốn đưa Trung Quốc trở thành một [[siêu cường]] trong thời gian còn nhanh hơn cả [[Liên Xô]] từng làm, Mao phát động phong trào Đại nhảy vọt và Công xã hoá. Đây là kế hoạch với mục tiêu ''nhấn mạnh biện pháp sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất thủ công'', tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội lớn chưa từng thấy với mục tiêu công nghiệp hóa nhằm đưa Trung Quốc thành siêu cường trong thời gian chỉ 10 - 20 năm. Sự nóng vội quá mức dẫn tới việc kế hoạch bị thất bại và phải hủy bỏ. Cùng với thiên tai và lũ lụt, những chính sách kinh tế sai lầm đã gây ra một nạn đói rất lớn trong lịch sử loài người, khoảng 37,5 triệu người (khoảng 5% dân số Trung Quốc) đã chết vì nạn đói do sản xuất nông nghiệp bị đình trệ.<ref>[http://nghiencuuquocte.net/wp-content/uploads/2014/11/Mao-Trạch-Đông-ngàn-năm-công-tội.pdf Mao Trạch Đông ngàn năm công tội], Tr.7, Nhà xuất bản Thư tác bảng, Hồng Công 2007, Thông tấn xã Việt Nam dịch và in 2009</ref>
[[Tập tin:1967-02_1967年的红卫兵.jpg|thumb|Hình ảnh các Hồng vệ binh tập hợp trước quảng trường Thiên An Môn năm 1967.]]
Chủ nghĩa Mao cho rằng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản thì cần có con người cộng sản, cần đấu tranh liên tục để chống lại những tập quán, văn hóa, thói hư tật xấu của xã hội cũ quay lại. Mao muốn làm một cuộc cách mạng xã hội thay đổi tư tưởng và bản chất của con người lẫn mối quan hệ giữa người và người. Để làm việc đó cần loại bỏ hết tàn dư văn hóa, tư tưởng, tập quán, lối sống phong kiến, tư sản, phản động. Đồng thời Mao cũng muốn xây dựng một xã hội dân chủ và bình đẳng hơn theo cách hiểu của ông. Biện pháp thực hiện là tiến hành "[[cách mạng văn hóa|cách mạng văn hoá]]". Sự suy đồi đạo đức xã hội, những tệ nạn xã hội và sự hủ bại của bộ máy nhà nước Trung Quốc, một yếu tố khiến [[Tưởng Giới Thạch]] thất bại, trước khi người cộng sản nắm quyền là một thực tế góp phần thúc đẩy Mao làm cuộc cách mạng văn hóa. Mao đã áp dụng những biện pháp để thực hiện điều này như bãi bỏ hệ thống quân hàm trong quân đội, khuyến khích dân chúng đả kích giới lãnh đạo nhà nước, thực hiện phê bình và tự phê bình trong nội bộ Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc... Tuy nhiên, với mặt bằng dân trí thấp khi đó, những biện pháp này trở nên cực đoan hóa khi được thực hiện bởi những cán bộ và công chúng quá khích, thiếu trình độ, thiếu kinh nghiệm, khiến xã hội Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn và bạo lực trong một thập kỷ. Cách mạng văn hóa có thể hiểu là một thử nghiệm của Mao nhằm hướng tới một xã hội tốt đẹp, dân chủ và bình đẳng hơn cùng một bộ máy cầm quyền trong sạch và hiệu quả hơn, nhưng cách thực thi vụng về của cán bộ cấp dưới và người dân đã khiến nó thất bại. Cách mạng văn hóa đã bị các phe phái, cá nhân trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và cả những người dân quá khích lợi dụng để quy chụp, kết án, thanh trừng lẫn nhau, trong khi những người phản đối Mao thì cho rằng đây là thủ đoạn chính trị để ông loại bỏ các đối thủ sau khi bị mất uy tín do những sai lầm trước đó. Nhiều lãnh đạo cấp cao trong Đảng, nhà nước, quân đội phản đối Mao như [[Bành Đức Hoài]], [[Lưu Thiếu Kỳ]], [[Đặng Tiểu Bình]]... lần lượt bị Hồng vệ binh (một lực lượng gồm toàn các thanh niên trẻ quá khích ở các địa phương) kết tội là chạy theo chủ nghĩa tư bản, phản bội đất nước và bị bắt giam. Nhiều cá nhân, tổ chức trong bộ máy Đảng và nhà nước Trung Quốc cũng bị Hồng vệ binh tấn công, phần lớn trong số họ là cán bộ cấp thấp và chẳng quen biết gì Mao. Cũng giống như [[Đại thanh trừng]] của Stalin, cách mạng văn hóa đã trở nên mất kiểm soát khi được tiến hành ở các địa phương, [[Hồng vệ binh]] kéo nhau đi tiêu diệt những điều mà họ cho là xấu xa, là đi ngược với nền văn hóa mới, dù chẳng có chứng cứ cụ thể nào. Theo một số liệu thống kê, cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.<ref>[http://www.hawaii.edu/powerkills/COM.ART.HTM HOW MANY DID COMMUNIST REGIMES MURDER? - By R.J. Rummel]</ref> Tháng 12 năm 1968, để dập tắt sự quá khích của Hồng vệ binh, Mao Trạch Đông đã phải ra lệnh cho hàng trăm ngàn thanh niên (nòng cốt của Hồng vệ binh) về nông thôn để trải nghiệm cuộc sống và lao động nông thôn, thực chất là tước bỏ khả năng gây loạn của họ, Hồng vệ binh tan rã từ đây. Trong [[thập niên 1980]], [[Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc]] khi đó là [[Hồ Diệu Bang]] nhận xét rằng khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã chịu đau khổ do phải chịu một hình thức đối xử thô bạo nào đó trong thời kỳ này. Đặng Tiểu Bình nhận định Mao Trạch Đông có một phần lỗi trong sự thất bại này, nhưng phần khác là do những người thi hành cấp dưới có trình độ kém còn công chúng dễ bị kích động khiến mục tiêu đề ra bị bóp méo: "''Cách mạng Văn Hóa là một sai lầm. Chúng ta phải mạnh dạn chối bỏ sai lầm này của Mao trong những năm tháng cuối đời của ông. Nhưng cũng cần nhìn vào sự thật. Sự thật là không phải mọi sai lầm và quá đáng trong cuộc Cách mạng Văn Hóa đều do Mao Trạch Đông.''"<ref>Global Times ngày 25/5/2011</ref> Nếu không đặt cuộc cách mạng văn hóa trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc khi đó thì không thể hiểu được động cơ đã thúc đẩy Mao làm cách mạng văn hóa và những hậu quả cả tốt lẫn xấu mà nó mang đến (trong cùng thập kỷ đó, [[Hàn Quốc]] cũng đề ra [[phong trào nông thôn mới]] có mục đích tương tự, và cũng dẫn đến nhiều hậu quả cả tốt lẫn xấu bởi những lý do tương tự).
 
Điều dễ nhận thấy của chủ nghĩa Mao là lý luận và thực hành của họ trong việc "phát động quần chúng". Phát động quần chúng của chủ nghĩa Mao là kết hợp của rất nhiều yếu tố chính trị, xã hội, tổ chức và đặc biệt là yếu tố mê hoặc tâm lý của quần chúng. Trong thực tế thì chủ tịch Mao rất giỏi trong việc mê hoặc và phát động quần chúng. Ông có thể phát động quần chúng thực hiện những việc tưởng như không thể tưởng tượng nổi từ phong trào tiêu diệt chim sẻ, các phong trào "[[Đại nhảy vọt]]", "ba ngọn cờ hồng" cho đến việc phát động quần chúng dùng [[Hồng vệ binh]] gây bạo loạn trong "[[cách mạng văn hóa|đại cách mạng văn hóa vô sản]]" để tạo sự lãnh đạo tuyệt đối của mình. Chủ nghĩa Mao luôn coi chính trị là có vai trò tối thượng trong đời sống xã hội. Mao Trạch Đông nói "Chính trị là thống soái" khi có đối thủ chính trị cần phê phán thì không những phải loại bỏ quyền lực chính trị của đối phương mà còn phải tiêu diệt "tư tưởng" chính trị của đối phương bằng cách kiểm điểm, đấu tố, dùng áp lực quần chúng đập tan ý chí của địch thủ, đó là biện pháp tâm lý mà chủ nghĩa Mao gọi là "cải tạo tư tưởng".
*Nhiều nhà phê bình chống cộng cho rằng lý thuyết kinh tế cộng sản đã dự đoán sai rằng giai cấp tư sản sẽ tích lũy vốn và sự giàu có ngày càng tăng, trong khi các lớp thấp hơn phụ thuộc nhiều hơn vào các giai cấp thống trị để tồn tại, hầu hết bán sức lao động với mức tiền lương tối thiểu <ref name=vonmises>[[Ludwig Von Mises]]. "[[Socialism: An Economic and Sociological Analysis]]" 2nd Ed. Trans. J. Kahane. New Haven: Yale University Press, 1951. pp. 111–222.</ref>. Phe chống cộng sản chỉ ra sự gia tăng toàn diện trong tiêu chuẩn sống trung bình ở các nước công nghiệp hóa phương Tây và cho rằng cả người giàu và người nghèo đã liên tục sống tốt hơn. Những người chống cộng sản cho rằng các nước thế giới thứ ba đã thành công thoát khỏi đói nghèo trong những thập kỷ gần đây bởi vì họ áp dụng kinh tế tư bản chủ nghĩa, và trích dẫn nhiều ví dụ về các nước kém phát triển theo chế độ Cộng sản mà không đạt được phát triển và tăng trưởng kinh tế, và trong nhiều trường hợp đã dẫn dân tộc của mình vào tình trạng tệ hơn, ví dụ như chế độ [[Mengistu]] ở Ethiopia, [[Khmer Đỏ]] ở Campuchia, nhà nước [[Bắc Triều Tiên]]. Những người chống cộng sản còn chỉ ra sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa hai phe tư bản và cộng sản cuối thời kì [[Chiến tranh lạnh]], được biểu hiện ở các quốc gia bị chia cắt trong giai đoạn này (chẳng hạn những nước cộng sản như [[Bắc Triều Tiên]], [[Đông Đức]] đều kém phát triển hơn về nhiều mặt so với các nước tư bản chủ nghĩa (như [[Nam Triều Tiên]], [[Tây Đức]]). Sự cách biệt rõ rệt về mặt kinh tế giữa 2 khối [[Tây Âu]] tư bản và khối [[Đông Âu]] cộng sản cũng phản ánh điều đó <ref>{{cite journal |author=Sleifer, Japp|title=Separated Unity: The East and West German Industrial Sector in 1936 |publisher=Groningen Growth and Development Centre|year=1999 | version=Research Memorandum GD-46|url=http://www.ggdc.net/pub/gd46.pdf|format=PDF}}
{{cite journal |author=Sleifer, Japp|title=A Benchmark Comparison of East and West German Industrial Labour Productivity in 1954 |publisher=Groningen Growth and Development Centre|year=2002 | version=Research Memorandum GD-57|url=http://www.eco.rug.nl/ggdc/pub/gd57.pdf|format=PDF}} {{cite journal |author=Ark, Bart van|title=Economic Growth and Labour Productivity In Europe: Half a Century of East-West Comparisons |publisher=Groningen Growth and Development Centre|year=1999 | version=Research Memorandum GD-41|url=http://www.ggdc.net/pub/gd41.pdf|format=PDF}}</ref>. Ngược lại, những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản cho rằng các dự đoán về việc người lao động phải bán sức lao động với mức tiền lương tối thiểu là vẫn đúng, chỉ khác là trong thời đại [[toàn cầu hóa]], việc bóc lột người lao động ở trong nước được thay bằng việc bóc lột người lao động nước ngoài tại các nước nghèo (thể hiện qua việc các [[tập đoàn đa quốc gia]] đầu tư xây dựng nhà máy ở các nước nghèo, và trả lương cho nhân công địa phương rất rẻ mạt)<ref>[http://nhipcaudautu.vn/nhan-vat/toan-cau-hoa-gay-ton-thuong-cho-nguoi-ngheo-3321112/ Toàn cầu hóa gây tổn thương cho người nghèo?], Tạp chí Nhịp Cầu Đầu tư, 14/11/2017</ref>. Cũng theo những quan điểm ủng hộ cộng sản, sự tụt hậu của các nước cộng sản chủ nghĩa cuối thập niên 1980 là do các nước này không linh hoạt thay đổi mô hình kinh tế, trong thực tế những nước cộng sản chủ nghĩa thay đổi linh hoạt đã có thể tiếp tục tồn tại và phát triển nhanh hơn nhiều nước tư bản có cùng trình độ xuất phát điểm. Ví dụ như [[Liên Xô]] trong thập niên 1930 đã vượt qua Anh-Pháp-Đức và hoàn thành [[công nghiệp hóa]] nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong lịch sử, hoặc hiện nay thì [[Trung Quốc]] đã vượt xa [[Ấn Độ]]<ref>[http://cafebiz.vn/giac-mo-vuot-trung-quoc-cua-an-do-con-duong-chong-gai-va-con-kha-xa-voi-20170605104553783.chn Giấc mơ vượt Trung Quốc của Ấn Độ: Con đường chông gai và còn khá xa vời], 05/06/2017, cafebiz</ref>, [[Cuba]] đã vượt hơn phần lớn các nước Mỹ Latinh trong các chỉ số về giáo dục và y tế<ref>[https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/he-thong-y-te-giao-duc-phat-trien-than-ky-cua-cuba-thoi-fidel-castro-3505063.html Hệ thống y tế - giáo dục phát triển thần kỳ của Cuba thời Fidel Castro], 28/11/2016, VnExpress</ref>.
*Những lời chỉ trích khác tập trung vào việc một số nhà nước cộng sản đã làm tổn hại nghiêm trọng hoặc phá hủy nhiều di sản văn hóa cũng như tôn giáo ở nhiều nơi. Trong trường hợp của Liên Xô, những lời chỉ trích này thường đề cập đến việc đối xử ưu đãi quá mức đối với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Đã từng có một thời [[Thuyết tương đối]] của [[Einstein]] bị xem là "Học thuyết khoa học tư sản" ở Liên Xô. Những lời chỉ trích khác tập trung vào các thí nghiệm văn hoá quy mô lớn của các chế độ cộng sản nhất định, đã gây nên những tổn thất lớn. Tại [[Romania]], trung tâm lịch sử-văn hóa của thủ đô [[Bucharest]] đã bị phá hủy và cả thành phố được thiết kế lại từ năm 1977 đến năm 1989. Tại Liên bang Xô viết, hàng trăm nhà thờ đã bị phá hủy hoặc chuyển đổi thành mục đích khác trong những năm 1920 và 1930. [[Văn hóa Trung Quốc]], một nền văn hóa có truyền thống lịch sử 5000 năm, đã bị hủy hoại nghiêm trọng trong cuộc [[Cách mạng văn hóa]] mà những người cộng sản khởi xướng vào thập niên 1960 <ref>Introduction, The [[Black Book of Communism]]: Crimes, Terror, Repression. Harvard University Press. {{ISBN|0-674-07608-7}}.</ref>. Ngược lại, những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản biện minh rằng các chính sách văn hóa đó tuy gây tổn thất về ngắn hạn, nhưng về dài hạn thì nó đã có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy các tiến bộ xã hội, loại bỏ các tàn dư hủ lậu của xã hội [[trung cổ]] một cách nhanh chóng. Ví dụ như Liên bang Xô viết đã thanh toán xong nạn [[mù chữ]], chống [[phân biệt chủng tộc]] và thực hiện nam - nữ bình quyền từ thập niên 1930<ref>Law, David A. (1975). Russian Civilization. Ardent Media. tr. 300–1. ISBN 0-8422-0529-2</ref>, trong khi nhiều nước tư bản phương Tây chỉ thực hiện xong việc này vào thập niên 1970. Hoặc [[Trung Quốc]] nhờ các chính sách văn hóa quyết liệt mà chỉ trong 20 năm đã loại bỏ được chế độ [[phân biệt đẳng cấp]], [[phân biệt chủng tộc]], nạn [[mù chữ]], [[mê tín dị đoan]] và các hủ tục khác như [[bó chân]] phụ nữ, [[đa thê]], [[tảo hôn]]... trong khi [[Ấn Độ]] có cùng xuất phát điểm nhưng trong suốt 70 năm vẫn chưa xóa bỏ được triệt để các tàn tích thời trung cổ này, chính những tàn tích này cũng như chế độ đẳng cấp đang kiềm hãm sự phát triển của Ấn Độ<ref>[https://www.project-syndicate.org/commentary/india-caste-system-vemula-suicide-by-shashi-tharoor-2016-02?barrier=accesspaylog How India’s Caste System Survives], Shashi Tharoor, Feb 8, 2016, Project Syndicate</ref>{{sfn|World Bank 2011}}{{sfn|Rawat|2011|p = 3}}{{sfn|Wolpert|2003|p = 126}}.
*Có những nhà phê bình chống cộng cho rằng cho rằng các nhà nước cộng sản đã tỏ ra "đạo đức giả" khi lên án [[chủ nghĩa đế quốc]] Phương Tây bởi một số quốc gia cộng sản như [[Liên Xô]] hay [[Trung Quốc]] đã từng nhiều lần thực hiện can thiệp vào nội bộ nước khác, chẳng hạn như khi Liên Xô sáp nhập [[Baltic]] và tấn công [[Phần Lan]] trong [[thế chiến II]], hoặc trấn áp cuộc nổi dậy ở [[Mùa xuân Praha|Tiệp Khắc]] và [[Hungary]] cùng với một loạt các hành động can thiệp quân sự trong thời kì [[Chiến tranh Lạnh]] <ref name="ReferenceA">Beissinger, Mark R. 2006 "Soviet Empire as 'Family Resemblance,'" Slavic Review, 65 (2) 294-303; Dave, Bhavna. 2007 Kazakhstan: Ethnicity, language and power. Abingdon, New York: Routledge.</ref>. Việc [[Trung Quốc]] sáp nhập [[Tây Tạng]] hay những tranh chấp của [[Trung Quốc]] trên [[biển Đông]] thời gian gần đây cũng được nhiều người coi là biểu hiện của [[chủ nghĩa đế quốc]]. Ngược lại, những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản cho rằng một số hành động dùng vũ lực nêu trên của các quốc gia cộng sản chỉ thể hiện những tranh chấp mang tính cục bộ, là mâu thuẫn lịch sử từ xa xưa giữa các dân tộc láng giềng, hoặc do tinh thần [[dân tộc chủ nghĩa]] chứ không liên quan đến chủ nghĩa cộng sản (việc các nước láng giềng xảy ra tranh chấp lãnh thổ, tấn công lẫn nhau là điều thường xuyên diễn ra trên thế giới dù họ thuộc bất kỳ thể chế chính trị nào, như tranh chấp [[Ấn Độ]] - [[Pakistan]], [[Iran]] - [[Iraq]], [[Israel]] - [[Palestine]], [[Hàn Quốc]] - [[Nhật Bản]]...), nó khác hẳn với việc [[Đế quốc Anh]], [[Pháp]], [[Đức]], [[Mỹ]] đem quân đi nửa vòng trái đất để xâm chiếm châu Á và châu Phi, can thiệp vào chính trị nội bộ quốc gia khác (những dân tộc vốn không có tranh chấp lãnh thổ với họ), và nó cũng không dẫn tới việc thiết lập [[thuộc địa]] như các nước [[đế quốc chủ nghĩa]] phương Tây đã làm vào thế kỷ 19.