Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
replaced: → (3) using AWB
=== Bình định Tây Bắc ===
[[Tập tin:MongolEmpireDivisions1300.png|left|thumb|340px|Bản đồ triều Nguyên và các hãn quốc thời [[Nguyên Vũ Tông]], Hãn quốc Oa Khoát Đài do bị triều Nguyên và Hãn quốc Sát Hợp Đài phân chia mà diệt vong.]]
Nguyên Thế Tổ từ trần vào năm 1294, mặc dù Thái tử Chân Kim mất sớm song con thứ ba của Chân Kim là Thiết Mục Nhĩ được phong làm "hoàng thái tử bảo" đồng thời được trấn thủ Hòa Lâm (tức Karakorum). Sau đó, trong Đại hội Khuruldai, Thiết Mục Nhĩ được sự ủng hộ của nhóm trọng thần Bá Nhan và [[Ngọc Tích Thiếp Mộc Nhi]], chiến thắng trước anh cả là [[Cam Ma Lạt]] và anh hai là [[Đáp Lạt Ma Bát Lạt]] mà kế vị, tức Nguyên Thành Tông. Nguyên Thành Tông chủ yếu là tuân thủ thận trọng pháp luật và quy tắc thời kỳ Nguyên Thế Tổ, tin dùng cháu là [[Nguyên Vũ Tông|Hải Sơn]] (con của anh hai) trấn thủ Hòa Lâm để bình định loạn Hải Đô tại Tây Bắc, đồng thời hạ lệnh đình chỉ chinh phạt Nhật Bản và Đại Việt. Trên phương diện nội chính, Nguyên Thành Tông tập trung chỉnh đốn chính trị quốc nội, giảm miễn thuế một phần cho Giang Nam. Tuy nhiên, do Nguyên Thành Tông ban thưởng quá độ, tài sản trong quốc khố thiếu thốn. Tháng một năm 1307, Nguyên Thành Tông từ trần, do Thái tử [[Đức Thọ]] mất sớm nên Tả thừa tướng [[A Hốt Thai]] ủng hộ Hoàng hậu [[Bốc Lỗ Hãn]] và An Tây vương [[A Nan Đáp]] (tôn sùng Hồi giáo) giám quốc, đồng thời có ý để cho A Nan Đáp xưng đế. Em của Hải Sơn là [[Nguyên Nhân Tông|Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt]] và Hữu thừa tướng [[Cáp Lạt Cáp Tôn]] phát động Đại Đô chính biến. Họ xử trảm A Hốt Thai, khống chế cục thế Đại Đô, ủng hộ Hải Sơn xưng đế, tức [[Nguyên Vũ Tông]]. Hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn và A Nan Đáp bị Nguyên Vũ Tông xử trảm, bộ hạ người Hồi của A Nan Đáp lui đến khu vực Thổ Lỗ Phồn tại Tây Vực<ref name="元朝中後期"/>.
 
Nguyên Vũ Tông sách phong cho Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (sau là Nguyên Nhân Tông) là hoàng thái đệ, giao ước với nhau rằng dòng của Vũ Tông và dòng của Nhân Tông thay nhau xưng đế, tức Vũ-Nhân chi ước<ref name="元朝中後期">《中國文明史 元代》〈第一章 雙重體制的政治〉: 第14頁-第16頁.</ref>. Thời kỳ Nguyên Vũ Tông, triều Nguyên gia phong Khổng Tử là "Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương"<ref>元武宗的诏书原文:上天眷命,皇帝圣旨:盖闻先孔子而圣者,非孔子无以明;后孔子而圣者,非孔子无以法。所谓祖述尧舜,宪章文武,仪范百王,师表万世者也。朕纂承丕绪,敬仰休风,循治古之良规,举追封之盛典。加号大成至圣文宣王,遣使阙里,祀以太牢。于戏!父子之亲,君臣之义,永惟圣教之尊;天地之大,日月之明,奚罄名言之妙?尚资神化,祚我皇元!</ref>, đồng thời cấp cho gia tộc và đệ tử của Khổng Tử một số xưng hiệu. Nhằm giải quyết nguy cơ tài chính có từ thì kỳ Nguyên Thành Tông, Nguyên Vũ Tông cho lập 'Thường bình thương' để kiềm chế vật giá, hạ lệnh in rất nhiều tiền, song khiến tiền giấy mất giá trị nghiêm trọng. Ngoài ra, ông đưa Trung thư tỉnh vốn có quyền tuyên sắc và dụng nhân giao cho Thượng thư tỉnh. Năm 1311, Nguyên Vũ Tông do chìm đắm trong trụy lạc, uống rượu quá độ mà từ trần, Hoàng thái đệ Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt kế vị, tức Nguyên Nhân Tông<ref name="元朝中後期"/>.
Hậu kỳ của triều Nguyên, đặc biệt là từ năm 1340 đến 1350, trong nước thường phát sinh hạn hán, ôn dịch và thủy tai, khu vực [[Hoàng Hà]] chịu nạn lụt hết sức nghiêm trọng. Trong khi đó, triều đình Nguyên không ngừng thu các loại thuế, khiến sinh hoạt của bách tính càng thêm gian khổ, do vậy [[Bạch Liên giáo]] dần thịnh hành, trở thành thế lực đối kháng với triều Nguyên. Ngay từ năm 1325 đã phát sinh sự kiện Triệu Sử Tư, Quách Bồ Rá lãnh đạo khởi sự vũ trang tại Hà Nam. Năm 1338, tại Viên Châu thuộc Giang Tây (nay là [[Nghi Xuân, Giang Tây]]), nhóm giáo đồ Bạch Liên giáo dưới quyền [[Bành Oánh Ngọc|Bành hòa thượng]], [[Chu Tử Vượng]] [[Khởi nghĩa Bạch Liên giáo|khởi nghĩa thất bại]], Bành hòa thượng chạy đến Hoài Tây. Năm 1350, triều đình Nguyên hạ lệnh cải cách tiền tệ, cho đúc "Chí Chính thông bảo", đồng thời phát hành lượng lớn "Trung Thống nguyên bảo giao sao" mới, khiến vật giá gia tăng nhanh chóng. Năm sau, Nguyên Huệ Tông phái Giả Lỗ trị thủy Hoàng Hà, muốn phục hồi dòng chảy cũ, huy động sử dụng tới 15 vạn dân phu, 2 vạn binh sĩ. Tuy nhiên, quan lại thừa cơ thủ lợi, gây bất mãn trong dân chúng. Các thủ lĩnh Bạch Liên giáo là [[Hàn Sơn Đồng]], [[Lưu Phúc Thông]] quyết định vào tháng 5 sẽ lãnh đạo giáo chúng khởi sự, song âm mưu bị lộ nên Hàn Sơn Đồng bị giết. Lưu Phúc Thông lập con của Hàn Sơn Đồng là [[Hàn Lâm Nhi]] làm thủ lĩnh tối cao, nói rằng Hàn Sơn Đồng là cháu đời thứ tám của [[Tống Huy Tông]], đề ra kỳ hiệu "phục Tống", lấy [[Quân Khăn Đỏ|khăn đỏ]] làm dấu hiệu. Sau đó, [[Quách Tử Hưng]] tại Hào Châu thuộc An Huy khởi sự, nhóm Chi Ma Lý chiếm lĩnh Từ Châu, đây là [[Quân Khăn Đỏ|Hồng Cân quân]] hệ phía đông. Tại Hồng Cân quân hệ phía tây, [[Bành Oánh Ngọc]], [[Trâu Phổ Thắng]] và [[Từ Thọ Huy]] tại Kỳ Châu thuộc Hồ Bắc khởi sự, đặt quốc hiệu là "[[Thiên Hoàn]]". Thế lực của Hồng Cân quân có ở khắp nơi tại Giang Bắc, Giang Nam, Lưỡng Hồ và Tứ Xuyên, ngoài Hồng Cân quân còn có lực lượng như của [[Trương Sĩ Thành]] khởi sự, dân biến báo trước sự diệt vong của triều Nguyên<ref>劉浦江《元明革命的民族主義想像》,〈中國史研究〉2014年第3期</ref>.
 
Triều đình Nguyên phái binh trấn áp Hồng Cân quân tại các nơi, Thừa tướng Thoát Thoát tự suất quân nam hạ công hãm quân Chi Ma Lý tại Từ Châu, trong một thời gian áp chế được quân dân biến. Tuy nhiên, vào năm 1354 Thoát Thoát khi tấn công quân Trương Sĩ Thành tại Cao Bưu thì bị đại thần triều đình hạch hỏi nên không giành được chiến thắng chung cuộc. Lực lượng của Từ Thọ Huy cuối cùng phân liệt thành lực lượng dưới quyền [[Trần Hữu Lượng]] tại Lưỡng Hồ và lực lượng dưới quyền [[Minh Ngọc Trân]] tại Tứ Xuyên. Bộ hạ [[Chu Nguyên Chương]] của Quách Tử Hưng tại Lưỡng Hoài vào năm 1356 lấy [[Nam Kinh]] làm căn cứ địa bắt đầu mở rộng địa bàn, đến năm 1363 tiến hành tác chiến với Trần Hữu Lượng đang chiếm cứ Lưỡng Hồ, cuối cùng trong [[trận hồ Bà Dương]] thì thu được thắng lợi. Năm 1365, sau khi chiếm lĩnh Lưỡng Hồ, Chu Nguyên Chương vào mùa đông đông tiến nhằm tiến công Trương Sĩ Thành đang chiếm cứ duyên hải Giang Tô. Năm 1367, sau khi bình định Trương Sĩ Thành, Chu Nguyên Trương tiếp tục nam hạ áp chế [[Phương Quốc Trân]] tại [[Chiết Giang]], đến đây Giang Nam không còn thế lực nào phản kháng Chu Nguyên Chương. Ngoài ra, Phúc Kiến từ năm 1357 đến năm 1368 phát sinh biến loạn của quân Sắc Mục, sử xưng [[loạn Ispah]]. Đồng thời kỳ, quân Nguyên dưới quyền [[Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi]] và [[Lý Tư Tề]] phản kích Hồng Cân quân tại phương bắc. Năm 1363 Hồng Cân quân tại phương bắc cuối cùng trong chiến dịch An Phong chiến bại trước Trương Sĩ Thành lúc này đã hàng Nguyên, Lưu Phúc Thông chiến tử còn Hàn Lâm Nhi đi về phía nam nương nhờ Chu Nguyên Chương song sau đó bị giết.
 
Chu Nguyên Chương sau khi thống nhất Giang Nam đến năm 1367 hạ lệnh Bắc phạt, ông phái [[Từ Đạt]], [[Thường Ngộ Xuân]] suất quân Minh phân biệt tiến công Sơn Đông và Hà Nam, đồng thời phong tỏa [[Đồng Quan]] nhằm để phòng quân Nguyên tại [[Quan Trung]] tiếp viện cho Trung Nguyên. Năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng là hoàng đế, lập ra [[nhà Minh]]. Tháng tám năm 1368, quân Minh công hãm Đại Đô của Nguyên, Nguyên Huệ Tông đào thoát về bắc, sách sử coi đây là năm triều Nguyên kết thúc. Tuy nhiên, triều đình Nguyên vẫn tại Thượng Đô, sách sử gọi triều đình Nguyên từ đó về sau là Bắc Nguyên. Triều đình Minh nhận định Nguyên Huệ Tông thuận thiên minh mệnh, do vậy đặt thụy hiệu là Nguyên Thuận Đế<ref name="惠宗失國"/>
|| Duệ Thánh Văn Hiếu hoàng đế
|rowspan=2| Kế Thiên Thể Đạo Kính Văn Nhân hoàng đế
|rowspan=2| Shidibala (Thạc Đức Bát Lạt)
|rowspan=2| 1320 - 1323
|rowspan=2| Chí Trị 1321 - 1323
|Biligtü Khan (Tất Lý Khắc Đò hãn){{noteTag|元昭宗只得到廟號,沒有諡號。自元昭宗以後,所有北元君主皆不自稱皇帝,只自稱可汗。漢文的廟號與諡號也不再有<ref>黎東方. 《細說元朝》. 二六 〈蒙古可汗與元朝皇帝的名單〉.傳記文學出版社. 1981: 第215頁.</ref>。}}<ref name="北元皇室稱號來源"/><ref name="蒙古世系譜">清《[[蒙古世系譜]]》卷四:“必里克圖汗者,哲宗也。按譜,惠宗殂,哲宗繼立,是即愛育識里達臘,改元宣光,洪武十一六月殂。傳位脫古斯帖木兒,改元天元,譜中之烏薩哈爾汗也。”</ref>
|
| Ayushiridara (Ái Du Thức Lý Đạt Lạp)
| 1370 - 1378
| Tuyên Quang 1371 - 1379