Khác biệt giữa các bản “Flavius Aetius”

n
replaced: → (8) using AWB
n (clean up using AWB)
n (replaced: → (8) using AWB)
 
|chữ ký=
}}
'''Flavius Aetius''', hoặc đơn giản là '''Aëtius''' (khoảng [[396]]-[[454]]), ''Quận công kiêm quý tộc'' ("[[dux]] et [[patrikios|patricius]]"), là tướng [[Đế quốc La Mã|La Mã]] vào thời kỳ cuối [[Đế quốc Tây La Mã]]. Ông theo quân đội từ sớm, từng làm con tin cho các vua "di địch" như [[Alaric I]] ([[goth|Goth]]) và [[Rugalia]] (Hung), sau làm tướng cho "kẻ soán ngôi" [[Joannes]] rồi lại theo hoàng đế [[Valentinianus III]].<ref name="Ermatinger7576">James William Ermatinger, ''The decline and fall of the Roman Empire'', các trang 75-76.</ref> Ông là nhà quân sự, ngoại giao và là một trong những người có thế lực nhất Tây La Mã trong suốt hai thập kỷ ([[433]]-[[454]]). Ông đã mở nhiều chiến dịch đánh các "man di" xâm phạm La Mã. Nổi bật hơn cả là trận ông thắng đội quân dữ tợn của người Hung do [[Attila]] chỉ huy: bằng đường lối đối ngoại khôn khéo, ông đã lập được liên minh với các man di ở châu Âu, họp quân đánh Attila ở [[Trận Châlons|Chalons]] năm [[451]], buộc Attila phải chạy về nước.
 
Cùng với [[thống đốc]] [[Bonifacius]] và [[Stilicho]], Aetius thường được các sử gia đời sau gọi là "người La Mã cuối cùng" với ngụ ý rằng, sau ông, La Mã không thể sản sinh được một người nào khác xứng đáng xếp cùng với các bậc anh hùng thuở xưa. Nhà sử học [[Anh]] [[Edward Gibbon]] thường nhắc đến ông là "''nhân vật được xưng tụng rộng rãi là nỗi khiếp đảm của di địch và là cột chống của nền cộng hòa''". Sau chiến thắng Châlons, ông sự nghiệp đang lên thì bị Valentinianus III đố kỵ, giết hại.
[[Tập tin:Flavius Felix 00.JPG|nhỏ|Tấm bia khắc tranh bộ đôi về [[quan chấp chính]] [[Flavius Felice]] vào năm [[428]], một trong những đối thủ của Aetius, sau bị Aetius xử tử vào năm [[430]].]]
 
Thời nhỏ, ông là đầy tớ trong cung, về sau ghi danh vào phục vụ trong một đơn vị quân đội là ''tribuni praetoriani partis militaris''.<ref>Gregory of Tours, ii.8; Jones, p. 21.</ref> Từ năm [[405]] cho đến năm [[408]], ông làm con tin cho vua [[Goth]] là [[Alaric I]]. Vào năm 408, Alaric đề nghị phóng thích ông, nhưng Aetius từ chối, rồi ông được chuyển tới làm con tin cho [[Rugila]], vua [[người Hung]].<ref>Gregory of Tours, ii.8; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-46, and ''Panegyrici'', ii.1-4 and 127-143; Zosimus, v.36.1</ref> Gibbon và một số nhà sử học khác cho rằng Aetius là kết quả của sự giáo dục ở các nước "di địch" mạnh mẽ và hiếu chiến như Hung, đã tôi luyện cho ông một sức mạnh hùng dũng và tinh thần thượng võ mà người La Mã đang dần mất đi vào giai đoạn đó.<ref>Edward Gibbon, ''The Decline and Fall of the Roman Empire, Volume I'', Chap. XXXV (Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1952), p. 559.</ref>
 
Năm [[423]], [[Hoàng đế Tây La Mã]] [[Honorius (Hoàng đế)|Honorius]] qua đời. Người có uy quyền lớn nhất là [[Castinus]], đã lập tướng [[Joannes]] lên ngôi, dù Joannes không phải người [[nhà Theodosius]] và không được Đông La Mã công nhận. [[Hoàng đế Đông La Mã]] [[Theodosius II]] sai cha con [[Ardaburius]], [[Aspar]] đi đánh Joannes, lập cháu Honorius là Valentinianus III lên thay. Joannes núng thế, bèn phong Aetius làm ''[[cura palatii]]'' và cử đi cầu viện nước Hung. Trong lúc Aetius vắng, mùa hè năm 425, quân Đông La Mã tiến vào [[Ravenna]] giết Joannes. Sau Flavius Aetius đem quân Hung về cứu chủ, thì phát hiện Valentinianus III và mẹ là [[Galla Placidia]] đã cai quản Đông La Mã. Aetius đánh một trận với Aspar, bị thất lợi; ông bèn thỏa hiệp với Galla Placidia rằng ông sẽ rút quân Hung về, đổi lại Valentinianus phải phong ông làm ''comes et magister militum per Gallias'' (Tổng tư lệnh quân đội xứ Gaul).<ref>Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 425; Gregory of Tours, ii.8; Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425; ''Chronica gallica 452'', 100; Jordanes, ''Romana'', 328; Jones, p. 22.</ref>
Năm [[426]] Flavius Aetius đánh tan quân Tây Goth, giải vây thành [[Arelate]]. Vào năm 428, ông đánh bại quân [[Frank]] và tái chiếm hầu hết các tỉnh nằm dọc sông [[Rhine]].<ref>Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425 and 428; ''Chronica gallica 452'', 102 (s.a. 427); Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 428. Cited in Jones, p. 22.</ref> Tiếp đó vào năm 429, Aetius được phong làm Tổng tư lệnh quân đội ("[[magister militum]]"). Cũng trong năm đó, ông đánh được quân [[Juthungi]] tại [[Raetia]] và tiêu diệt một nhóm quân [[Visigoth|Tây Goth]] ở gần [[Arelate]], bắt sống được thủ lĩnh của họ là [[Anaolsus]]. Vào năm [[431]], ông cả phá người [[Nori]] tại [[Noricum]], quay trở lại xứ [[Gallia|Gaul]], ông nghênh đón [[Hydatius]], Giám mục xứ [[Aquae Flaviae]], người hay phàn nàn về cuộc tấn công của người [[Suebi]].
 
Tuy nhiên mối quan hệ tốt đẹp giữa người La Mã và người Hung không kéo dài được bao lâu, ngay khi Attila muốn công chiếm xứ Gaul, ông ta thừa biết Aetius lúc đó đang là thống lĩnh quân sự ở Gaul là một chướng ngại vật quan trọng cho sự nghiệp của ông ta, vì thế ông cố gắng loại bỏ nó ngay lập tức.<ref>John of Antioch, fr. 199.2; Jordanes, ''Getica'', 191. Cited in Jones, p.27.</ref> Năm [[451]], Attila họp quân người chính gốc Hung và quân chư hầu đánh Gaul, ban đầu lấy được vài thành phố và uy hiếp Orléans (Pháp ngày nay). Dân Alan định cư ở đây có ý đào ngũ sang phe Attila. Aetius bàn với [[nguyên lão Nghị viên]] có thế lực nhất lúc đó là [[Avitus]] cử sứ sang thuyết phục vua Tây Goth [[Theodoric I]] liên minh với La Mã đánh Hung. Aetius còn ngăn không cho [[Sangibanus]], đồng minh của Hung, hội quân với Attila. Quân La Mã-Tây Goth kéo đến Orléans, quân Hung bèn bỏ thành phố.<ref>Sidonius Apollinaris, vii.328-331, 339-341; John Malalas, 358; Jordanes, ''Getica'', 195; Gregory of Tours, ii.7. Cited in Jones, p.27.</ref>
 
Ngày [[20 tháng 9]] năm 451 (một số nguồn tài liệu khác thì ghi là ngày 20 tháng 6 năm 451),<ref>Bury, J.B., 1923, Chapter 9, § 4.</ref> Aetius và Theodoric đích thân đánh Attila và đồng minh trong [[Trận Châlons]]<ref>Prosperus, s.a. 451; ''Chronica Gallica a. 452'', 139 (s.a. 451), 141 (s.a. 452); Cassiodorus, ''Chronica'', 451; ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 451; Hydatius, 150 (a. 451); ''Chronicon Paschale'', s.a. 450; Jordanes, ''Getica'', 197ff; Gregory of Tours, ii.7; Procopius, i.4.24; John Malalas, 359; Theophanes, AM 5943. Cited in Jones, p. 27.</ref>. Trong đêm trước trận đánh, Flavius Aetius đã tiêu diệt một số quân đi sau của Attila.<ref name="Spencer8587"/> Đến sáng, Aetius đóng quân dọc theo một đồi dài, hình chữ U. Aetius noi theo cách của [[Hannibal]], đặt quân tinh nhuệ nhất là quân Tây Goth, quân La Mã ở hai cánh. Quân các chư hầu yếu hơn là [[Frank]], [[Alan]] đứng chính giữa. Quân Hung tràn lên đồi; Aetius và Thorismund (con Theodoric) thúc quân chống đánh, quân Hung phải lui xuống.<ref>Jordanes, ''De Origine Actibusque Getarum'', 38.196–201</ref> Kế đến, Theodoric và Thorismund dẫn quân Goth xông lên, cả phá quân Hung. Theodoric chết tại trận, nhưng Attila phải rút vào trại cố thủ.<ref>Jordanes, ''De Origine Actibusque Getarum,'' 40.209–12.</ref><ref name="Spencer8587">Spencer Tucker, ''Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict'', các trang 85-87.</ref><ref>Jordanes, ''De Origine Actibusque Getarum,'' 40.209–12.</ref> Hôm sau, các tướng định công phá trại Attila, nhưng Aetius ngăn lại, vì ông sợ khi Attila bị diệt, đến lượt Tây Goth sẽ đánh Gaul, gây nguy hại cho La Mã. Ông còn bảo Thorismund về gấp [[Toulouse]] (quốc đô [[Vương quốc Visigoth|Tây Goth]]) để nhận ngôi vua. Có lẽ cũng nhờ vậy mà quân La Mã lấy được hết chiến lợi phẩm.<ref>''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 451; Gregory of Tours, ii.7; Jordanes, ''Getica'', 215ff. Cited in Jones, pp. 27-28.</ref><ref name="Wierr26">William Weir, ''Fatal Victories: From the Crusades to Bunker Hill to the Vietnam War: History's Most Tragic Military Triumphs and the High Cost of Victory'', các trang 22-26.</ref>
 
Năm [[452]] Attila ép Valentinianus III gả em là [[Honoria]], rồi dẫn quân đánh Ý. Aetius không chặn quân Hung từ đèo [[Anpơ]] vào Ý, chỉ đóng đồn ở Aquileia.<ref>Prosper, s.a. 452; Jordanes, ''De Origine Actibusque Getarum'' 42.219.</ref> Attila mặc sức cướp bóc, tàn phá các thành phố Ý và đốt trụi [[Aquileia]]. Valentinianus III bỏ [[Ravenna]] chạy về Roma. Aetius vẫn ở chiến trường nhưng không đủ quân để đánh trận. Ông bèn đặt quân tại [[Bologna|Bononia]] hòng chặn đường từ dãy [[Appennini]] tới Ravenna và Roma. Edward Gibbon viết sử La Mã cho rằng tài nghệ của Aetius chưa bao giờ bộc lộ rõ hơn lúc này: tuy không còn đồng minh, ông phải quấy rối, kìm hãm Attila bằng một đội quân nhỏ.<ref name="Prosperus, s.a. 452">Prosperus, s.a. 452.</ref><ref>Edward Gibbon, ''The history of the decline and fall of the Roman empire'', Tập 4 trang 244</ref> Cuối cùng Attila dừng quân tại [[Po]], gặp một phái bộ gồm [[Thái thú La Mã]] [[Trigetius]], cựu chấp chính quan [[Gennadius Avienus]] và [[Giáo hoàng Lêô I]] thuyết phục ông ta về nước. Attila nghe theo, rút quân băng qua núi [[Anpơ|Alps]] quay về, không lấy được cả Honoria lẫn Ý. Các nhà chép sử cổ, trung đại gán công đuổi Attila cho giáo hoàng Lêô I và các thế lực siêu nhiên,<ref>[http://www.fordham.edu/halsall/source/attila2.html Medieval Sourcebook: Leo I and Attila]</ref><ref>[http://www.evolpub.com/CRE/CREseries.html#CRE11 Given, J. (2014) ''The Fragmentary History of Priscus: Attila, the Huns and the Roman Empire, AD 430-476''] Evolution Publishing, Merchantville, NJ {{ISBN|978-1-935228-14-1}}, p. 107</ref><ref>Paul the Deacon, Historia Romana 14.12</ref> nhưng có lẽ Attila có nhiều lý do khác để rút lui: quân Hung thiếu ăn và bị bệnh dịch; quân Aetius ra sức giam chân, gây lúng túng cho địch, và cuối cùng - Đông La Mã đã sai một tướng (cũng tên là Aetius) đem quân lên mạn bắc sông Donau, đánh vào bản thổ người Hung và chư hầu.<ref>Heather, P. (2010) ''The Fall of the Roman Empire'', Pan Macmillan. {{ISBN|9780330529839}}, p. 341</ref> Hai năm sau, Attila chết, đế quốc Hung dần tan rã.<ref name="Prosperus, s.a. 452"/>
*Clover, Frank M ''Flavius Merobaudes'' (American Philosophical Society 1971).
*Creasy, Sir Edward, ''Fifteen Decisive Battles of the World'',
*Drinkwater, John, ''Fifth-Century Gaul: A Crisis of Identity?'' (Cambridge University Press 1992) ISBN 0521414857.
*Elton, Hugh ''Warfare in Roman Europe, AD 350-425'' (Oxford University Press 1998) ISBN 0198152418.
*Ferrill, Arther, <cite>The Fall of the Roman Empire: The Military Explanation</cite>. Thames and Hudson, London, 1986.
*Jones, A.H.M., <cite>The Later Roman Empire 284-602</cite>. Oxford Press, Cambridge, 1964.
*Norwich, John J. ''Byzantium: The Early Centuries.'' ''The Fall of the West''. Knopf, New York, 1997
*O'Flynn, John Michael ''Generalissimos of the Western Roman Empire'' (The University of Alberta Press 1983) ISBN 0888640315.
*Oost, Stewart I., <cite>Galla Placidia Augusta</cite>. Chicago, 1968.
 
{{s-start}}