Khác biệt giữa các bản “Quyền dân sự và chính trị”

n
→‎top: replaced: → (6) using AWB
n (→‎top: replaced: → (6) using AWB)
'''Quyền Dân sự và Chính trị''' (còn gọi là '''Dân quyền''' hay là '''Quyền công dân''') là các quyền bảo vệ sự [[tự do]] [[cá nhân]] khỏi sự xâm phạm của các [[chính phủ]], và bảo vệ các [[tổ chức xã hội]] và cá nhân. Quyền này đảm bảo khả năng của một người để được tiếp cận và tham gia vào [[Xã hội dân sự|đời sống dân sự]] và chính trị của xã hội và nhà nước không được có phân biệt đối xử hay đàn áp.
 
Quyền dân sự nói chung được hiểu là chỉ những quyền liên quan đến các mối quan hệ giữa [[công dân]] và [[nhà nước]], và ít liên quan đến những quan hệ giữa người dân với nhau.
 
Quyền dân sự bao gồm việc bảo đảm tính toàn vẹn của thể chất và tinh thần, cuộc sống và an toàn; bảo vệ khỏi mọi sự [[phân biệt đối xử]] trên những cơ sở như [[chủng tộc]], [[giới tính]], [[Bản dạng giới|nhân dạng giới tính]], biểu hiện giới tính tự chọn, [[Rối loạn định dạng giới|định dạng giới]], nguồn gốc quốc gia, màu da, tuổi, [[Đảng phái chính trị|quan hệ chính trị]], [[thiên hướng tình dục]], [[sắc tộc]], [[tôn giáo]], hoặc tình trạng [[khuyết tật]];;<ref>The Civil Rights act of 1964, [http://www.ourdocuments.gov/doc.php?flash=true&doc=97 ourdocuments.gov]</ref><ref>Americans with Disabilities Act of 1990, [http://www.access-board.gov/about/laws/ada.htm accessboard.gov]</ref><ref>Summary of LGBT civil rights protections, by state, at Lambda Legal, [http://www.lambdalegal.org/states-regions/ lambdalegal.org]</ref> và quyền cá nhân như [[quyền riêng tư]], quyền [[tự do tư tưởng]] và nhận thức, [[tự do phát biểu]], [[tự do tôn giáo]], [[Tự do báo chí|báo chí]], [[tự do hội họp và lập hội]] và [[quyền tự do đi lại]].
 
Các quyền chính trị bao gồm công lý trung lập (thủ tục xét xử công bằng, [[bình đẳng trước pháp luật]]) trong pháp luật, chẳng hạn như [[quyền lợi của bị cáo]], trong đó có [[quyền được xét xử công bằng]]; pháp luật đúng thủ tục và quy trình (''due process''); quyền đòi bồi thường hoặc khắc phục lỗi pháp lý; và quyền tham gia vào [[xã hội dân sự]] và chính trị như [[quyền tự do hiệp hội|quyền tự do lập hội]], quyền hội họp, [[quyền kiến ​​nghị]], [[quyền tự vệ]] và quyền bỏ phiếu ([[quyền bầu cử]]).
 
Quyền dân sự và chính trị cấu thành và là phần chính của [[Nhân quyền]] quốc tế.<ref>A useful survey is Paul Sieghart, ''The Lawful Rights of Mankind: An Introduction to the International Legal Code of Human Rights'', Oxford University Press, 1985.</ref> Quyền nằm trong phần đầu tiên của [[Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền]] năm 1948 (với các [[Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa|quyền kinh tế, xã hội và văn hóa]] trong phần thứ hai). Lý thuyết về [[ba thế hệ của nhân quyền]] coi nhóm quyền này là "quyền căn bản đầu tiên của thế hệ".
 
[[Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị]] ([[tiếng Anh]]: ''International Covenant on Civil and Political Rights'', viết tắt: '''ICCPR''') là một [[công ước quốc tế]] do [[Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc]] và các quốc gia thànnh viên thông qua ngày 16 háng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 03 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người. Cụ thể, các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm [[quyền sống]], quyền [[tự do tín ngưỡng|tự do tôn giáo]], [[tự do ngôn luận|tự do phát biểu]], [[tự do hội họp và lập hội|tự do hội họp]], [[quyền bầu cử]] và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật. Tính tới ngày 19 tháng 12 năm 2010, đã có 72 quốc gia ký vào Công ước và 167 bên tham gia.<ref name=reservations>{{Chú thích web |url=http://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=IV-4&chapter=4&lang=en |tiêu đề= Danh sách các quốc gia tham gia Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị |ngày truy cập= 19 tháng 12 năm 2010 |nhà xuất bản= Liên Hiệp Quốc|ngôn ngữ=tiếng Anh}}</ref>