Khác biệt giữa các bản “Meritaten”

không có tóm lược sửa đổi
| nơi an táng = ''không rõ''
}}
'''Meritaten''' (hay '''Merytaten''', '''Meryetaten''') là một công chúa và là một vương[[Vương hậu]] thời kỳ [[Amarna]], [[Vương triều thứ Mười Tám của Ai Cập|Vương triều thứ 18]] của [[Ai Cập cổ đại]]. Bà là vợ của pharaonPharaon [[Smenkhkare]] và là con gái của [[Akhenaton|Akhenaten]]. Meritaten có thể đã có một triều đại dành riêng cho mình dưới cái tên là '''Ankhkheperure [[Neferneferuaten]]'''<ref name=":0">Joyce Tyldesley, ''Chronicle of the Queens of Egypt'', 2006, Thames & Hudson, tr.136-137</ref>.
 
== Gia đình ==
Meritaten là con gái đầu lòng của pharaon [[Akhenaton|Akhenaten]] và nữ hoàng [[Nefertiti]]; là chị khác mẹ với pharaon [[Tutankhamun]]. Bà đã thành hôn với [[Smenkhkare]], một pharaon bí ẩn trong vương triều này<ref>Aidan Dodson & Dyan Hilton: ''The Complete Royal Families of Ancient Egypt''. Thames & Hudson, 2004, tr.142-157 ISBN 0-500-05128-3</ref>.
 
Nhiều văn tự cổ có nhắc đến tên của một công chúa là Meritaten Tasherit, người này có thể là con gái của Meritaten<ref name=":0" />. Nhiều học giả cho rằng Akhenaten đã lấy chính những người con gái của mình làm vợ để mong muốn có một người con trai kế vị, và Meritaten Tasherit là con gái của ông<ref name=":1">Cyril Aldred, ''Akhenaten: King of Egypt'', Thames and Hudson, 1991 ISBN 0-500-27621-8</ref>. Tuy nhiên, Meritaten Tasherit và một công chúa khác, Ankhesenpaaten Tasherit, chỉ xuất hiện trên những dòng văn tự đề cập đến thứ phi [[Kiya]], vợ bé của Akhenaten<ref name=":2">Aidan Dodson, ''Amarna Sunrise: Egypt from Golden Age to Age of Heresy'', The American University in Cairo Press, 2014</ref>.
 
== Tiểu sử ==
[[Tập tin:Alabaster sunken relief depicting Akhenaten, Nefertiti, and daughter Meritaten. Early Aten cartouches on king's arm and chest. From Amarna, Egypt. 18th Dynasty. The Petrie Museum of Egyptian Archaeology, London.jpg|trái|nhỏ|250px|[[Akhenaton|Akhenaten]], [[Nefertiti]] và Meritaten đứng dưới ánh mặt trời của [[Aten]] (bia đá bằng [[thạch cao]] tại [[Bảo tàng Petrie]], [[Anh]])]]
 
=== Công chúa Amarna ===
[[Tập tin:Smenkhkare and Meritaten from Meryre II.jpg|nhỏ|280px|[[Smenkhkare]] và Meritaten xuất hiện trên mộ của Meryre II]]
Meritaten ra đời trước khi cha bà lên ngôi vua. Một cung điện có tên là Teni-menu nằm trong quần thể [[đền Karnak]] có thể là nơi ở của gia đình bà<ref name=":2" />. Một điện thờ tên Hut-Benben gần đó có khắc họa những hình ảnh của bà cùng với người mẹ [[Nefertiti]]<ref name=":1" />. Hai người em gái của Meritaten là công chúa [[Meketaten]] và [[Ankhesenamun|Ankhesenpaaten]] ít xuất hiện hơn trên những khung cảnh hoàng gia ở đây.
 
Bắt đầu từ năm trị vì thứ năm của Akhenaten, Meritaten xuất hiện khá nhiều trên các đền đài, lăng mộ và các bia đá<ref name=":0" />. Bà không chỉ xuất hiện trên những khung cảnh trong hoàng gia mà còn trong những nghi lễ trịnh trọng dưới thời kỳ Amarna. Tên của bà đã được dùng để thay thế tên của một nữ nhân trong hoàng tộc, đó chính là [[Kiya]], người đã từng là sủng phi của Akhenaten<ref name=":0" />. Meritaten cũng được nhắc đến trong những bức thư ngoại giao với tên gọi là ''Mayati''<ref name=":0" />. Những lá thư này được nghĩ là sự đánh dấu quyền lực của Meritaten vào những năm sau đó của Akhenaten. Tuy nhiên, đó chỉ là những bức thư kỷ niệm ngày sinh thần của công chúa<ref name=":2" />.
 
=== HoàngVương hậu ===
Meritaten cũng được nhắc đến trong những bức thư ngoại giao với tên gọi là ''Mayati''<ref name=":0" />. Những lá thư này được nghĩ là sự đánh dấu quyền lực của Meritaten vào những năm sau đó của Akhenaten. Tuy nhiên, đó chỉ là những bức thư kỷ niệm ngày sinh thần của công chúa<ref name=":2" />.
Meritaten được gọi là ''"Người vợ hoàng giađại của đạiPharaoh"'' trong ngôi mộ của Meryre II, người ghi chép và là người quản kho báu hoàng gia của [[Nefertiti]]. Tại đây, bà xuất hiện cùng với chồng là [[Smenkhkare]] và đang ban thưởng cho Meryre. Smenkhkare có thể đã đồng cai trị với cha vợ là [[Akhenaton|Akhenaten]], và lẽ đó mà Meritaten được gọi là hoàngVương hậu, trong khi đó [[Nefertiti]] vẫn giữ ngôi Chánh cung tới tận năm 16 của Akhenaten<ref name=":1" />. Vì thế, công chúa Meritaten được phong hậu vào sau năm 16 của cha bà<ref>Friederike Kampp-Seyfried (biên tập), ''In the Light of Amarna: 100 Years of the Nefertiti Discovery'', Michael Imhof Verlag, 2013</ref>.
 
Tên của Meritaten được khắc trên những [[Cúc vàng|bông cúc]] bằng vàng đính trên những bộ y phục được phát hiện tại mộ của [[Tutankhamun]]. Một chiếc rương bằng gỗ đựng y phục có ghi những dòng chữ sau: ''"Neferkheperure-Waenre'' (tên ngai của [[Akhenaton|Akhenaten]]) ''và Ankhkheperure-mr-waenre, Neferneferuaten-mr-waenre và Chánh cung hoàngVương hậu Meritaten"''<ref>Aidan Dodson, ''Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter-reformation'', The American University in Cairo Press, 2009</ref>.
=== Hoàng hậu ===
Meritaten được gọi là "Người vợ hoàng gia vĩ đại" trong ngôi mộ của Meryre II, người ghi chép và là người quản kho báu hoàng gia của [[Nefertiti]]. Tại đây, bà xuất hiện cùng với chồng là [[Smenkhkare]] và đang ban thưởng cho Meryre. Smenkhkare có thể đã đồng cai trị với cha vợ là [[Akhenaton|Akhenaten]], và lẽ đó mà Meritaten được gọi là hoàng hậu, trong khi đó [[Nefertiti]] vẫn giữ ngôi Chánh cung tới tận năm 16 của Akhenaten<ref name=":1" />. Vì thế, công chúa Meritaten được phong hậu vào sau năm 16 của cha bà<ref>Friederike Kampp-Seyfried (biên tập), ''In the Light of Amarna: 100 Years of the Nefertiti Discovery'', Michael Imhof Verlag, 2013</ref>.
 
Theo một số nhà nghiên cứu, [[Smenkhkare]] đã mất sau khi [[Akhenaton|Akhenaten]] băng hà không bao lâu. Vì thế, bà đã đích thân lên ngôi vua, lấy tên là [[Neferneferuaten]], cai trị được khoảng 2 năm thì được [[Tutankhamun]] kế vị. Tuy nhiên, [[Neferneferuaten]] cũng có thể chính là nữ hoàng [[Nefertiti]], theo một số giả định.
Tên của Meritaten được khắc trên những [[Cúc vàng|bông cúc]] bằng vàng đính trên những bộ y phục được phát hiện tại mộ của [[Tutankhamun]]. Một chiếc rương bằng gỗ đựng y phục có ghi những dòng chữ sau: ''"Neferkheperure-Waenre'' (tên ngai của [[Akhenaton|Akhenaten]]) ''và Ankhkheperure-mr-waenre, Neferneferuaten-mr-waenre và Chánh cung hoàng hậu Meritaten"''<ref>Aidan Dodson, ''Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter-reformation'', The American University in Cairo Press, 2009</ref>.
 
Theo một số nhà nghiên cứu, [[Smenkhkare]] đã mất sau khi [[Akhenaton|Akhenaten]] băng hà không bao lâu. Vì thế, bà đã đích thân lên ngôi vua, lấy tên là [[Neferneferuaten]], cai trị được khoảng 2 năm thì được [[Tutankhamun]] kế vị. Tuy nhiên, [[Neferneferuaten]] cũng có thể chính là nữ hoàng [[Nefertiti]], theo một số giả định.
 
== An táng ==
Một tấm bia đá cho biết rằng công chúa Meritaten đã được chôn đâu đó tại vùng [[Amarna]] ngày nay<ref name=":1" />:<blockquote>''"Hãy làm một ngôi mộ cho ta ở ngọn núi phía đông của Akhenaten. Hãy chôn cất ta tại đó, để được trường tồn với Aten, cha ta, đã ban sắc lệnh cho ta. Hãy chôn cất Người vợ vĩ đại Nefertiti tại đó, để được trường tồn với Aten, cha ta, đã ban sắc lệnh cho bà. Hãy chôn cất ta tại đó, người con gái của Vua, Meritaten, để trường tồn với thời gian."''<ref>{{Chú thích web|url=http://amarnaproject.com/pages/amarna_the_place/boundary_stelae/|tiêu đề=Tấm bia Biên giới}}</ref></blockquote>Ngôi mộ hoàng gia ở Amarna được dành để chôn cất công chúa [[Meketaten]], nữ hoàng [[Tiye]] và [[Akhenaten]], sau đó thì đóng cửa vĩnh viễn. Meritaten có lẽ đã được dự định chôn cất ở một ngôi mộ khác.
 
== Chú thích ==