Khác biệt giữa các bản “Kiya”

không có tóm lược sửa đổi
{{Thông tin nhân vật hoàng gia|tên=Kiya|tước vị=|hình=KV55-CanopicJar-AmarnaQueen-CloseUp MetropolitanMuseum.png|ghi chúcỡ hình=200px|phối ngẫu=[[Akhenaten]]|con cái=Con gái không rõ tên<br> ([[Beketaten]] ?)|hoàng tộc=[[Eighteenth Dynasty of Egypt|18th of Egypt]]|tên ngai=<hiero>V31:Z4-i-A-B1</hiero>hoặc<br><hiero>k:i-Z4:A-B7</hiero>|cha=[[Amenhotep III]] (?)|mẹ=[[Tiye]] (?)|nơi an táng=[[KV35]] (?)}}
 
'''Kiya''' là một trong những người vợ của Pharaohpharaon [[Akhenaton|Akhenaten]]. Xuất thân cũng như cuộc đời của bà cho đến nay vẫn còn là bí ẩn.
 
Theo những gì ghi nhận được, bà có vai trò quan trọng trong những năm giữa triều đại Akhenaten, khi bà sinh cho ông một con gái<ref name="Murnane">William J. Murnane. ''Texts from the Amarna Period in Egypt.'' Edited by E.S. Meltzer. Atlanta: Society of Biblical Literature, 1995. ({{ISBN|1-55540-966-0}}) Page 9, pp 90–93, pp 210–211.</ref><ref name="Dodson2009">Aidan Dodson. Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter Reformation. The American University in Cairo Press, 2009. ({{ISBN|978-977-416-304-3}}) Page 17.</ref>. Bà biến mất hoàn toàn trong lịch sử chỉ vài năm trước cái chết của chồng.
Theo những [[bức thư Amarna]] thứ 27 tới 29, người ta xác nhận rằng Tadukhepa đã tái giá với con trai Amenhotep, tức [[Akhenaton|Akhenaten]]. Do vậy mà một số nhà [[Ai Cập học]] cho rằng Tadukhipa và Kiya có thể là cùng một người<ref name=":0">William J. Murnane. ''Texts from the Amarna Period in Egypt.'' Edited by E.S. Meltzer. Atlanta: Society of Biblical Literature, 1995. (<nowiki>ISBN 1-55540-966-0</nowiki>)</ref>. Tuy nhiên, lại không có bất cứ bằng chứng cụ thể nào cho thấy bà là một người ngoại quốc<ref>Jacobus Van Dijk, "The Noble Lady of Mitanni and Other Royal Favourites of the Eighteenth Dynasty" in ''Essays on Ancient Egypt in Honour of Herman te Velde,'' Groningen, 1997, tr. 35–37</ref><ref>Cyril Aldred. ''Akhenaten, King of Egypt''. Thames & Hudson, 1991. (<nowiki>ISBN 0-500-27621-8</nowiki>), tr.286</ref>.
 
Cái tên [Kiya] gây nhiều tranh luận, vì từ này dường như chỉ đến một biệt danh hơn là một tên riêng. Nhiều ý kiến móc nối cái tên này có lẽ là một dạng danh hiệu ám chỉ đến một người từ nước ngoài đến, như [Tadukhipa] chẳng hạn. Điều này khiến nhiều người vẫn còn tin bà đến từ một vùng đất khác ngoài Ai Cập. Nhưng [[Cyril Aldred]] chứng minh rằng, cái tên [Kiya] là một biến thể của từ con [[khỉ]] trong ngôn ngữ Ai Cập cổ đại, và điều này cũng khiến cho lập luận ''"Kiya đến từ ngoại quốc"'' trước đó bị yếu đi<ref>Cyril Aldred. Akhenaten, King of Egypt. Thames & Hudson, 1991. ({{ISBN|0-500-27621-8}}) Page 286.</ref>.
 
Bên cạnh đó, Kiya được ban danh hiệu ''"Người được sủng ái"'' và ''"Người rất được yêu quý"'', mà không phải ''"Người vợ vĩ đại"'' đã chứng tỏ bà không xuất thân từ vương tộc Ai Cập. Danh hiệu đầy đủ của bà là:''"Người vợ được yêu quý và sủng ái của Chủ nhân vùng Hạ và Thượng Ai Cập. Biểu thị của lẽ phải, Chúa tể của hai vùng đất, Neferkheperure Waenre, đứa con rực rỡ của thần Aten vĩnh cữu, người sẽ mãi mãi trường tồn, Kiya"''.
 
==Xác ướp Quý bà trẻ ==
Nhà Ai Cập học cho rằng xác ướp trên là của [[Nefertiti]], chính thất của [[Akhenaton|Akhenaten]]. Trong khi đó, nhà Ai Cập học [[Zahi Hawass]] lại tin rằng đó là của Kiya. Sau khi có kết quả phân tích ADN, xác ướp [[Quý cô trẻ hơn|Quý bà trẻ hơn]] ("The Younger Lady") trong lăng mộ [[KV35]] được cho chắn chắn là mẹ của [[Tutankhamun]], và cũng là chị/em ruột cùng cha cùng mẹ với [[Akhenaton]]<ref>Hawass Z, Gad YZ, Ismail S, Khairat R, Fathalla D, Hasan N, Ahmed A, Elleithy H, Ball M, Gaballah F, Wasef S, Fateen M, Amer H, Gostner P, Selim A, Zink A, Pusch CM (February 2010). "Ancestry and Pathology in King Tutankhamun's Family". ''JAMA: the Journal of the American Medical Association''. '''303''' (7): 638–47. </ref>. Tuy nhiên, tên của xác ướp này vẫn chưa được xác định rõ.
 
Nếu đúng đó là xác ướp của Kiya, thì bà chính là mẹ đẻ của [[Tutankhamun]] và là con gái của [[Amenhotep III]] với [[Tiye]]. Điều này vẫn còn gây tranh cãi. Theo các bản khắc văn tự cổ, bà chỉ được gọi là "Người yêu dấu của vua" nhưng lại không được gọi là "Con gái của vua" hay "Người vợ hoàng gia vĩ đại"; chính vì thế bà không thuộc dòng dõi hoàng gia, kể cả Neferiti<ref>Hawass Z; et al. (2010). "Ancestry and pathology in King Tutankhamun's family". ''JAMA''. '''303''' (7): 3</ref>. Tuy nhiên, đa số các nhà Ai Cập học hiện nay tin rằng "Quý bà trẻ hơn" thực chất là Kiya.
 
==Chú thích ==
{{tham khảo|23}}
 
[[Thể loại:Vương triều thứ Mười tám của Ai Cập]]