Khác biệt giữa các bản “Sirimavo Bandaranaike”

không có tóm lược sửa đổi
n (Đã lùi lại sửa đổi của 113.178.3.227 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Michel Djerzinski)
Thẻ: Lùi tất cả
| term_start2 = 29 tháng 5 năm 1970{{sfn|Richards|2014|p=194}}
| term_end2 = 23 tháng 7 năm 1977{{sfn|Richards|2014|p=194}}
| monarch2 = [[Elizabeth II]] <small>(Untilđến 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| president2 = [[William Gopallawa]] <small>(Fromtừ 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| governor_general2 = [[William Gopallawa]] <small>(Untilđến 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| predecessor2 = [[Dudley Senanayake]]
| successor2 = [[J. R. Jayewardene]]
| term_start9 = 31 tháng 5 năm 1970{{sfn|Rajasingham|2002}}
| term_end9 = ?
| monarch9 = [[Elizabeth II]] <small>(Untilđến 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| president9 = [[William Gopallawa]] <small>(Fromtừ 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| governor_general9 = [[William Gopallawa]] <small>(Untilđến 22 tháng 5 năm 1972)</small>
| predecessor9 =
| successor9 =
| successor11 = [[Dudley Senanayake]] {{Collapsed infobox section end}} {{Collapsed infobox section begin|Leadership positions|titlestyle=background-color:#eee}}
| order12 = 3rd
| office12 = Chủ tịch đảngĐảng Tự do Sri Lanka
| term_start12 = 7 tháng 5 năm 1960{{sfn|''The Times''|1960a|p=10}}
| term_end12 = ([[de facto]]) tháng 5 năm 1993,{{sfn|Schaffer|1995|p=412}}<br>(chính thức) 12 tháng 11 năm 1994{{sfn|International Business Publications USA|2008|pp=14–15}}
}} '''Sirima Ratwatte Dias Bandaranaike''' ({{Lang-si|සිරිමා රත්වත්තේ ඩයස් බණ්ඩාරනායක}}, {{Lang-ta|சிறிமா ரத்வத்தே டயஸ் பண்டாரநாயக்கே}}; 17 tháng 4 năm 1916 - 10 tháng 10 năm 2000), thường được gọi là '''Sirimavo Bandaranaike''', {{NoteTag|Hậu tố "''vo''" hàm ý sự kính trọng. Bandaranaike còn được gọi là '''Bà Bandaranaike''', '''Bà B''', hoặc '''Mathini'''.{{sfn|Rettie|2000}}}} là một nữ chính khách người Sri Lanka. Bà trở thành [[Danh sách nữ nguyên thủ quốc gia|nữ lãnh đạo chính phủ]] được bầu đầu tiên trên thế giới trong lịch sử hiện đại, khi bà được bầu làm Thủ tướng Sri Lanka năm 1960. Bà đã phục vụ ba nhiệm kỳ: 1960-1965, 1970-1977 và 1994-2000.
 
Sinh ra trong một gia đình quý tộc [[Kandy]], Bandaranaike được giáo dục ở các trường trung học Công giáo, Anh, nhưng vẫn là [[Phật giáo|Phật tử]] và nói [[tiếng Sinhala]] cũng như tiếng Anh. Khi tốt nghiệp trung học, bà đã làm việc cho các chương trình xã hội khác nhau trước khi lập gia đình. Trong vai trò nữ chủ nhân của gia đình Bandaranaike, vợ của [[S.W.R.D. Bandaranaike]]-người tham gia hoạt độngnđộng chính trị và sau đó trở thành Thủ tướng, bà đã có được sự tin tưởng của chồng như một cố vấn không chính thức. Công việc xã hội của bà tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái ở các vùng nông thôn của Sri Lanka. Sau vụ ám sát chồng năm 1959, Sirimavo Bandaranaike tham gia chính trường và năm 1960 trở thành người phụ nữ đầu tiên được bầu làm Thủ tướng của một quốc gia.
 
Bandaranaike đã cố gắng cải tổ thuộc địa Ceylon cũ của Anh thành một nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa bằng cách quốc hữu hóa các tổ chức trong lĩnh vực ngân hàng, giáo dục, công nghiệp, truyền thông và thương mại. Thay đổi ngôn ngữ hành chính từ tiếng Anh sang tiếng Sinhala, bà làm trầm trọng thêm sự bất mãn trong cộng đồng người bản xứ Tamil, và với những người Tamil gốc Ấn, nhóm sắc tộc trở thành vô quốc tịch theo Đạo luật Công dân năm 1948. Trong hai nhiệm kỳ đầu tiên của Thủ tướng Bandaranaike, đất nước bị ảnh hưởng bởi lạm phát và thuế cao, sự phụ thuộc vào nhập khẩu thực phẩm để nuôi sống dân chúng, thất nghiệp cao và phân cực giữa hai nhóm dân Sinhala và Tamil vì chính sách dân tộc Sinhala. Vượt qua một âm mưu đảo chính vào năm 1962, cũng như [[Cuộc nổi dậy của JVP ở Sri Lanka (1971)|cuộc nổi dậy năm 1971]] của những thanh niên cực đoan,. nămNăm 1972, bà giám sát việc soạn thảo hiến pháp mới và thành lập nền cộng hòa Sri Lanka. Năm 1975, Bandaranaike đã thành lập cơ quan tiền thân của Bộ Phụ nữ và Trẻ em Sri Lanka, đồng thời bổ nhiệm người phụ nữ đầu tiên phục vụ trong Nội các Sri Lanka. Nhiệm kỳ của Bandaranaike được đánh dấu bằng sự phát triển kinh tế không tương xứng giữa các vùng miền. Trên diễn đàn quốc tế, bà đóng một vai trò một vai trò nổi bật với tư cách là một nhà đàm phán và một nhà lãnh đạo trong các [[Phong trào không liên kết|quốc gia không liên kết]].
 
Bị tước quyền lực trong cuộc bầu cử năm 1977, Bandaranaike đã bị tước quyền dân sự vào năm 1980 vì lạm quyền trong nhiệm kỳ của mình và bị cấm tham gia chính quyền trong bảy năm. Những người kế vị của bà ban đầu đã cải thiện nền kinh tế trong nước, nhưng không giải quyết được các vấn đề xã hội, và khiến đất nước rơi vào một cuộc [[Nội chiến Sri Lanka|nội chiến]] kéo dài. Khi bà trở lại lãnh đạo đảng năm 1986, Bandaranaike đã phản đối cho phép Lực lượng gìn giữ hòa bình Ấn Độ can thiệp vào cuộc nội chiến, tin rằng nó vi phạm chủ quyền của Sri Lanka. Không giành được chức vụ Tổng thống năm 1988, bà là Thủ lĩnh phe Đối lập trong cơ quan lập pháp từ năm 1989 đến 1994. Khi con gái bà giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm đó, Bandaranaike được bổ nhiệm vào nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là Thủ tướng và phục vụ cho đến khi nghỉ hưu năm 2000, hai tháng trước khi qua đời.
 
== Thời niên thiếu (1916-1940) ==
Bandaranaike, khai sinh Sirima Ratwatte, ra đời vào ngày 17 tháng 4 năm 1916 tại Ellawala Walawwa ở Ratnapura, thuộc Ceylon của Anh. {{sfn|Moritz|1961|p=23}} {{sfn|Perera|2016}} Mẹ bà là Rosalind Hilda Mahawalatenne Kumarihamy, {{sfn|Richards|2014|p=194}} {{sfn|Jeyaraj|2016}} một thầy thuốc theo truyền thống [[Ayurveda]] có tiếng, {{sfn|Lokubandara|2005}} và cha bà là Barnes Ratwatte, một chính trị gia. Ông ngoại của bà Mahawalatenne, và sau đó là cha bà, từng là Rate Mahatmaya, lãnh đạo người bản địa, của Balangoda. {{sfn|Fernando|2015b}} Cha bà là một thành viên của Radala, quý tộc của [[Vương quốc Kandy]]. {{sfn|Moritz|1961|p=23}} Bên nội của bà có nhiều nhân vật tiếng tăm, như cha bà Huân tước Jayatilaka Cudah Ratwatte, người đầu tiên từ Kandy được nhận phong tước của vương quốc Anh, {{sfn|Meegama|2003|pp=57–58}} {{sfn|Ratwatte|2014}} và nhiều người từng là cận thần phục vụ quốc vương Sinhala. {{sfn|Moritz|1961|p=23}} Một trong số đó, Ratwatte, tổng đốc (Dissawa) của Matale, là một người tham gia ký kết Công ước Kandy năm 1815. {{sfn|Low|2017|p=352}}
 
Sirima là con cả trong một gia đình có sáu người con. {{sfn|Jeyaraj|2016}} Bà có bốn anh em, Barnes Jr., Seevali, Mackie và Clifford; và một chị gái, Patricia, {{sfn|''The Daily FT''|2016}} đã kết hôn với Đại tá Edward James Divitotawela, người thành lập Bộ Tư lệnh Trung ương của Quân đội Ceylon. {{sfn|Fernando|2015b}} Gia đình cư trú tại [[walawwa]], tức trang viên thuộc địa, của ông ngoại Mahawalatenne của Sirima, và sau đó tại walawwa của họ ở Balangoda. Từ khi còn nhỏ, Sirima đã có quyền sử dụng thư viện các tác phẩm văn học và khoa học rộng lớn của ông nội bà. {{sfn|Perera|2016}} Ban đầu bà đi học tại trường mẫu giáo tư nhân trong Balangoda, một thời gian ngắn vào năm 1923 chuyển tới các lớp học bậc tiểu học của Trung học Ferguson tại Ratnapura, và sau đó đã được gửi đến [[trường nội trú]] tại Tu viện St Bridget, Colombo. {{sfn|Perera|2016}} {{sfn|Jeyaraj|2016}} {{sfn|Fernando|2017}} Mặc dù giáo dục của bà thuộc hệ thống trường Công giáo, Sirima vẫn là một [[Phật giáo|phật tử]] thực hành trong suốt cuộc đời {{sfn|Rettie|2000}} {{sfn|''The Daily Telegraph''|2000}}, thông thạo cả tiếng Anh và [[tiếng Sinhala]]. {{sfn|''The Daily FT''|2016}}
 
Sau khi hoàn thành việc học ở tuổi 19, {{sfn|Richardson|2005|p=170}} Sirima Ratwatte tham gia vào công tác xã hội, phân phối thực phẩm và thuốc men cho các làng sống ở trong rừng, tổ chức các phòng khám và giúp tạo ra ngành nghề ở nông thôn để cải thiện mức sống của phụ nữ trong làng. {{sfn|Rettie|2000}} {{sfn|''The Daily Telegraph''|2000}} Bà trở thành thủ quỹ của Liên đoàn Dịch vụ Xã hội, phục vụ trong vị trí đó cho đến năm 1940. {{sfn|Saha|1999|p=123}} Trong sáu năm tiếp theo, bà sống với bố mẹ trong khi họ sắp xếp cuộc hôn nhân của mình. {{sfn|Richardson|2005|p=170}} Sau khi từ chối hai người theo đuổi - một người họ hàng xa, và con trai của gia tộc đứng đầu Ceylon - cha mẹ Ratwatte của được liên hệ bởi một [[Làm mối|người mai mối]], người đề xuất một liên minh với Solomon West Ridgeway Dias (S.W.R.D) Bandaranaike, {{sfn|''The Daily FT''|2016}} một luật sư tốt nghiệp [[Đại học Oxford|Oxford]] chuyển sang làm chính trị gia, người lúc đó là Bộ trưởng Bộ Hành chính Địa phương trong Hội đồng Nhà nước Ceylon. {{sfn|''The Daily Telegraph''|2000}} Ban đầu S.W.R.D Bandaranaike không được coi là xứng với Sirima, bởi vì gia tộc Ratwatte là quý tộc nhiều đời phục vụ hoàng tộc, trong khi gia tộc Bandaranaike tuy giàu có nhưng xuất thân từ miền quê và đã phục vụ các nhà cai trị thực dân trong nhiều thế kỷ. {{sfn|''The Daily Telegraph''|2000}} Các nhà chiêm tinh nói rằng tử vi của họ hợp nhau, và sau khi cân nhắc lợi ích của việc đoàn kết hai gia tộc nhà Ratwatte đã chấp thuận. {{sfn|''The Daily FT''|2016}} Cặp đôi, vốn đã gặp nhau trước đó, đã đồng ý với sự lựa chọn. {{sfn|''The Daily FT''|2016}} {{sfn|Richardson|2005|pp=170–171}}
 
Đối mặt với thâm hụt ngân sách 195 &nbsp; triệu đô la- gây ra bởi chi phí nhập khẩu năng lượng và thực phẩm tăng và doanh thu giảm từ xuất khẩu dừa, cao su và chè - Bandaranaike đã cố gắng tập trung hóa nền kinh tế và thực hiện kiểm soát giá cả. {{sfn|Richardson|2005|pp=321–322}} {{sfn|''The Anniston Star''|1970|p=42}} Bị ép bởi các thành viên cánh tả trong liên minh của mình nhằm quốc hữu hóa các ngân hàng nước ngoài có nguồn gốc Anh, Ấn Độ và Pakistan, bà nhận ra rằng làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng. {{sfn|''The Anniston Star''|1970|p=42}} Giống như nhiệm kỳ trước của mình, bà đã cố gắng cân bằng dòng hỗ trợ nước ngoài từ cả đối tác tư bản và cộng sản. {{sfn|Richardson|2005|p=322}} Vào tháng 9 năm 1970, Bandaranaike đã tham dự Hội nghị không liên kết lần thứ ba tại [[Lusaka]], Zambia. {{sfn|''Socialist India''|1974|p=24}} Tháng đó, bà cũng tới Paris và London để thảo luận về thương mại quốc tế. {{sfn|Phadnis|1971|pp=270–271}} Ra lệnh cho đại diện của Quỹ châu Á và [[Đoàn Hòa bình]] rời khỏi đất nước, Bandaranaike bắt đầu đánh giá lại các thỏa thuận và đề xuất thương mại đã được người tiền nhiệm của bà đàm phán. Bà tuyên bố rằng chính phủ của bà sẽ không công nhận Israel, cho đến khi đất nước này giải tranh chấp với các nước láng giềng Ả Rập thông qua biện pháp hòa bình. Bà chính thức công nhận Đông Đức, [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên|Bắc Triều Tiên]], [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Bắc Việt Nam]] và [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]]. {{sfn|Phadnis|1971|p=271}} Bandaranaike phản đối sự phát triển của một trung tâm liên lạc Anh-Mỹ ở Ấn Độ Dương, cho rằng khu vực này phải là một "khu vực trung lập, không có hạt nhân". {{sfn|Phadnis|1971|p=272}} Vào tháng 12, Đạo luật Trưng mua Doanh nghiệp được thông qua, cho phép nhà nước quốc hữu hóa bất kỳ doanh nghiệp nào có hơn 100 nhân viên. Động thái này nhằm giảm sự kiểm soát của nước ngoài đối với sản xuất chè và cao su quan trọng, nhưng nó đã cản trở cả đầu tư trong và ngoài nước vào công nghiệp và phát triển hạ tầng. {{sfn|''The Anniston Star''|1970|p=42}} {{sfn|Phadnis|1971|p=273}}
 
[[Tập tin:Sirimavo_Bandaranaike_1961_(cropped)_5.PNG|trái|nhỏ|Bandaranaike và nhòm tùy tùng quân sự của bà, năm 1961]]
Bất chấp những nỗ lực của Bandaranaike để giải quyết các vấn đề kinh tế của đất nước, thất nghiệp và lạm phát vẫn không được kiểm soát. {{sfn|Phadnis|1971|p=274}} Chỉ sau 16 tháng nắm quyền, chính phủ của Bandaranaike gần như bị lật đổ bởi [[Cuộc nổi dậy của JVP ở Sri Lanka (1971)|cuộc nổi dậy Janatha Vimukthi Peramuna năm 1971]] của thanh niên cánh tả. Mặc dù nhận thức được lập trường hiếu chiến của Janatha Vimukthi Peramuna (Mặt trận Giải phóng Nhân dân), ban đầu chính quyền của Bandaranaike đã không xem họ là một mối đe dọa sắp xảy ra, coi họ là những người lý tưởng chủ nghĩa đơn thuần. {{sfn|Phadnis|1971|pp=274–275}} Vào ngày 6 tháng 3, phiến quân đã tấn công Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Colombo, {{sfn|Phadnis|1971|p=275}} dẫn đến tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào ngày 17 tháng 3. Đầu tháng 4, các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát đã chứng tỏ một cuộc nổi dậy được lên kế hoạch rõ ràng mà quân đội nhỏ của Ceylon không được trang bị đầy đủ để xử lý. Kêu gọi các đồng minh hỗ trợ, chính phủ đã được cứu phần lớn nhờ chính sách đối ngoại trung lập của Bandaranaike. Liên Xô đã gửi máy bay để hỗ trợ chính phủ Ceylon; vũ khí và thiết bị đến từ Anh, Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, Hoa Kỳ và Nam Tư; vật tư y tế được cung cấp bởi Đông và Tây Đức, Na Uy và Ba Lan; tàu tuần tra được gửi từ Ấn Độ; {{sfn|''The Sydney Morning Herald''|1971|p=16}} và cả Ấn Độ và Pakistan đã gửi quân đội. {{sfn|Fathers|2000}} Vào ngày 1 tháng 5, Bandaranaike đã đình chỉ các chiến dịch tấn công của chính phủ và đưa ra một đề nghị ân xá, dẫn đến hàng ngàn người đầu hàng. Tháng sau đó một lệnh ân xá thứ hai đã được thi hành. Bandaranaike đã thành lập một Ủy ban Tái thiết Quốc gia để tái lập chính quyền dân sự và đưa ra một kế hoạch chiến lược để xử lý những người nổi dậy bị bắt hoặc đầu hàng. {{sfn|''The Sydney Morning Herald''|1971|p=16}} Một trong những hành động đầu tiên của Bandaranaike sau cuộc xung đột là trục xuất các nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên, vì bà nghi ngờ họ đã xúi giục sự bất mãn cực đoan. {{sfn|Phadnis|1971|pp=275–276}} Câu nói ''"Bà là người đàn ông duy nhất trong nội các của mình" -'' được quy cho các đối thủ chính trị của bà trong thập niên 1960 - {{sfn|McIntyre|1967|p=227}} nổi lên trong thời kỳ nổi dậy, {{sfn|Fathers|2000}} khi Bandaranaike chứng minh rằng bà đã trở thành một "lực lượng chính trị đáng gờm". {{sfn|de Alwis|2008}}