Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
→‎Lãnh đạo Đảng (1977-1988): chữa lặp nguồn và dịch máy
Bandaranaike vẫn giữ được ghế quốc hội của mình tại Attanagalla trong cuộc tổng tuyển cử năm 1977. Vào tháng 11 năm 1977, một bản kiến nghị thách thức vị trí của bà với tư cách là một thành viên quốc hội đã bị Tòa án tối cao Colombo bác bỏ.{{sfn|''The Guardian''|1977|p=8}} Năm 1978, một hiến pháp mới đã được phê chuẩn thay thế [[Hệ thống Westminster|chế độ nghị viện]] kiểu Anh bằng [[Tổng thống chế|chế độ tổng thống]] kiểu Pháp. Theo hiến pháp, Tổng thống được bầu qua phiếu bầu phổ thông mỗi nhiệm kỳ sáu năm. Tổng thống sau đó chọn một Thủ tướng để chủ trì Nội các và cần được cơ quan lập pháp xác nhận.{{sfn|Ross|Savada|1990|p=53}} Hiến pháp lần đầu tiên bao gồm tuyên bố về các quyền cơ bản, và công nhận tiếng Tamil là một ngôn ngữ chính thức{{sfn|Omar|1996|pp=158–159}}, mặc dù ngôn ngữ hành chính vẫn là tiếng Sinhala. Nội dung này nhằm mục đích xoa dịu nhóm ly khai Tamil, nhưng bạo lực tiếp diễn giữa hai nhóm dân tộc Tamil và Sinhala buộc chính phủ phải thông qua Đạo luật Ngăn chặn Khủng bố năm 1979.{{sfn|Ross|Savada|1990|p=54}}
 
Năm 1980, một Ủy ban Tổng thống đặc biệt đã được Tổng thống J.R. Jayawardene bổ nhiệm để điều tra các cáo buộc chống lại Bandaranaike vì lạm dụng quyền lực trong nhiệm kỳ củalàm Thủ tướng.{{sfn|Saha|1999|p=126}} Dựa vào kết luận của ủy ban, chính phủ đệ trình một biện pháp ra quốc hội được thông qua với tỉ sốlệ 139 thuận:/18 chống,{{sfn|Richardson|2005|p=400}}{{sfn|''The Hartford Courant''|1980|p=C23}} dẫn đến việc tước quyền dân sự của Bandaranaike và cháu bà, Felix Dias Bandaranaike-người bị kết tội tham nhũng, trong vòng 7 năm.{{sfn|''The Guardian''|1980|p=7}}{{sfn|''The Los Angeles Times''|2000}}{{sfn|Ashborn|1980|p=7}} Bà bị trục xuất khỏi quốc hội, nhưng vẫn duy trì vai trò lãnh đạo đảng.{{sfn|Ashborn|1980|p=7}}{{sfn|''The Guardian''|1980|p=7}} Mặc dù là người đứng đầu, Bandaranaike không được phép vận động tranh cử cho Đảng Tự do. Do đó, con trai bà, Anura được bổ nhiệm lãnh đạo đảng đoàn ở quốc hội.{{sfn|Ross|Savada|1990|p=53}}{{sfn|Richardson|2005|p=400}}{{sfn|''The Age''|1986|p=6}} Dưới thời Anura, Đảng Tự do chuyển dịch dần sang cánh hữu, và con gái của Bandaranaike, Chandrika, đã rút lui, thành lập Đảng Nhân dân Sri Lanka cùng với chồng, Vijaya Kumaratunga. Các mục tiêu của đảng mới bao gồm việc táihàn lậpgắn quan hệ với người Tamil.{{sfn|Rettie|2000}}
 
Từ năm 1980, xung đột giữa chính phủ và phe ly khai của các nhóm cạnh tranh khác nhau, bao gồm [[Những con Hổ giải phóng Tamil|Hổ Tamil]], Tổ chức Giải phóng Nhân dân Tamil Eelam, Quân đội Giải phóng Eelam Tamil và Tổ chức Giải phóng Eelam Tamil, trở nên thường xuyên và ngày càng bạo lực.{{sfn|Ross|Savada|1990|p=54}}{{sfn|Richardson|2005|p=383}} Dù tranh chấp với nhau, các phe phái Tamil đồng lòng tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống năm 1982{{sfn|Ross|Savada|1990|pp=54–55}}, và tiến hành các cuộc ám sát các chính trị gia cấp cao và phục kích quân đội chính phủ. Căng thẳng leo thang khi người Sinhala chiếm đa số tấn công đáp trả, bạo loạn lan rộng từ Colombo ra khắp khắp đất nước.{{sfn|RossKearney|Savada|19901985|ppp=54–55908}}{{sfn|KearneyRoss|1985Savada|p1990|pp=90854–55}}
 
Trong khi đó, các chính sách tư nhân hóa nền kinh tế và ưu tiên tăng trưởng của chính phủ Jayewardene gây tổn thương cho cả người Tamil lẫn người Sinhala.{{sfn|Richardson|2005|p=404}} Ngân sách bị thâm hụt lớn, Sri Lanka trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các tổ chức tín dụng quốc tế và tài trợ nước ngoài.{{sfn|Richardson|2005|pp=410–411}} Tư nhân hóa công nghiệp, sau năm 1982, đã tạo ra những khoảng cách đáng kể giữa người giàu và người nghèo và lạm phát quay trở lại, khiến hàng hóa khó mua sắm và hạ thấp mức sống bị hạ thấp.{{sfn|Richardson|2005|pp=518–519}}
 
Vào tháng 1 năm 1986, các quyền dân sự của Bandaranaike đã được khôi phục bằng một sắc lệnh của tổng thống do Jayewardene ban hành, một năm trước khi hạnlệnh cấm 7 năm kết thúc.{{sfn|''The Age''|1986|p=6}} Xung đột giữa chính phủ và phe ly khai, đã leo thang từ năm 1983, biếntrở thành cuộc [[Nội chiến Sri Lanka|Nội chiến]] vào năm 1987.{{sfn|Samaranayaka|2008|p=326}} Jayewardene tìm cách đổ lỗi cho sự bất ổn an ninh cho cánh tả, nói rằng họ kích động nhằm âm mưu lật đổ chính phủ.{{sfn|Richardson|2005|p=526}} Bế tắc trong đàm phán với phiến quân, Jayewardene tìm kiếm sự can thiệp của Chính phủ Ấn Độ. Được ký vào năm 1987, Hiệp định Ấn Độ-Sri Lanka, đưa ra các điều khoản về thỏa thuận ngừng bắn giữa Chính phủ Sri Lanka và phiến quân, ủy quyền cho Lực lượng gìn giữ hòa bình Ấn Độ chiếm đóng đất nước trong nỗ lực thúc đẩy giải giáp.{{sfn|Samaranayaka|2008|pp=347–349}} Bandaranaike và Đảng Tự do phản đối quân đội Ấn Độ tới đóng Sri Lanka, tuyên bố chính phủ đã phản bội chính người dân của mình bằng cách cho phép Ấn Độ can thiệp.{{sfn|Richardson|2005|pp=532, 541}} Nhóm phiến quân dân tộc chủ nghĩa người Sinhala Janatha Vimukthi Peramuna tái xuất hiện ở miền nam.{{sfn|Richardson|2005|pp=547–548}} Trong bối cảnh đó, Bandaranaike quyết định ra tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1988. Bà đã bị đánh bại trong gang tấc bởi Ranasinghe Premadasa, người kế nhiệm Jayewardene làm Tổng thống.{{sfn|''The Daily FT''|2016}}{{sfn|''The Los Angeles Times''|2000}}
 
=== Lãnh đạo phe đối lập (1989 - 1994) ===