Khác biệt giữa các bản “Cuộc tấn công Ba Lan (1939)”

không có tóm lược sửa đổi
{{Thông tin chiến tranh
|conflict= Cuộc tấn công Ba Lan
|partof= [[Chiến trường châu Âu (Chiến tranh thế giới thứ hai)|Chiến trường châu Âu]] trong<br>[[Chiến tranh thế giới thứ hai]]
|image= [[Tập tin:Battle of Poland.png|300px]]
|caption= Từ trái sang phải: Không quân Đức ([[Luftwaffe]]) ném bom Ba Lan, [[SMS Schleswig-Holstein|''Schleswig-Holstein'']] tấn công Westerplatte, lính [[Wehrmacht]] dỡ bỏ chốt chặn tại biên giới Ba Lan-Đức, đội hình tiến công của thiết giáp Đức, lính Đức và lính Xô Viết bắt tay nhau sau trận Brest-Lwów, cảnh ném bom thành phố Warszawa.
|caption=[[Kỵ binh]] Ba Lan trong [[trận Bzura]], trận đánh lớn nhất giữa Đức và Ba Lan trong cuộc chiến
|date=[[1 tháng 9]] – [[6 tháng 10]] năm [[1939]]
| place = [[Ba Lan]], [[Đông Phổ]], và thành phố tự do Danzig (hay [[Gdańsk]] ngày nay)
|place=[[Ba Lan]]
| territory = Lãnh thổ Ba Lan được phân chia bởi Đức Quốc xã, Liên bang Xô Viết và nhà nước Slovak.
|result=Đức Quốc xã, Slovakia và Liên Xô chiến thắng, [[lãnh thổ]] Ba Lan bị phân chia
| result = Chiến thắng của Đức Quốc xã và Liên Xô
|combatant1={{flagicon|Ba Lan|1921}} [[Đệ Nhị Cộng hòa Ba Lan|Ba Lan]]
|combatant2 combatant1 = {{flagcountry|Nazi Germany}}<br>{{flagdeco|Soviet Union|1936}} [[Liên Xô]]<br><small>(từ ngày 17 tháng 9)</small><br>{{flagiconFlagdeco|Slovakia|1938}} [[Cộng hòa Slovak (1939–1945)|Slovakia]]<br><small>(Xem [[Slovak invasion of Poland|chi tiết]])</small>{{flagcountry|Soviet<br>Thành Union|1923}}phố tự do Danzig
----
|commander1={{flagicon|Poland}} [[Edward Rydz-Śmigły]]
[[File:Organization of Ukrainian Nationalists-M.svg|15px|left|Emblem of OUN-M]] Du kích Ukraine
|commander2={{flagicon|Nazi Germany}} [[Fedor von Bock]]<br /> <small>(Tập đoàn quân phía bắc)</small><br />{{flagicon|Nazi Germany}} [[Gerd von Rundstedt]]<br /> <small>(Tập đoàn quân phía nam)</small><br />{{flagicon|USSR|1923}} [[Mikhail Kovalev]]<br /> <small>(Phương diện quân Belorussia)</small><br />{{flagicon|USSR|1923}} [[Semyon Konstantinovich Timoshenko|Semyon Timoshenko]]<br /> <small>(Phương diện quân Ukraina)</small><br />{{flagicon|Slovakia|1938}} [[Ferdinand Čatloš]]<br /><small>([[Tập đoàn quân Bernolák]])</small>
|combatant1 combatant2 = {{flagicon|Ba Lan|1921}} [[Đệ Nhị Cộng hòa Ba Lan|Ba Lan]]
|strength1=&nbsp;'''Ba Lan''':<br />39 sư đoàn,<br />16 lữ đoàn,<ref name=pereslegin>Переслегин. Вторая мировая: война между реальностями.- М.:Яуза, Эксмо, 2006, с.22; Р. Э. Дюпюи, Т. Н. Дюпюи. Всемирная история войн. — С-П,М: АСТ, кн.4, с.93</ref><br />4.300 khẩu pháo,<ref name = pereslegin>{{ru icon}} Переслегин. Вторая мировая: война между реальностями.— М.:Яуза, Эксмо, 2006, с.22; Р. Э. Дюпюи, Т. Н. Дюпюи. Всемирная история войн.—С-П,М: АСТ, кн.4, с.93.</ref><br />880 xe tăng,<br />400 máy bay<ref name=polishgovernment>Ministry of Foreign Affairs. [http://www.ww2.pl/The,1939,Campaign,22.html The 1939 Campaign] [[Polish Ministry of Foreign Affairs]], 2005</ref><br /> '''Tổng cộng: 950.000'''<ref name="Strength">Một số nguồn tài liệu không giống nhau cho những số liệu khác nhau do đó con số này chỉ là con số ước tính gần đúng cho sức mạnh của 2 bên. Con số phổ biến nhất trong phạm vị khác biệt trên là: Đức 1.500.000 (con số chính thức của Bộ ngoại giao Ba Lan)- hoặc 1.800.000. Số xe tăng Ba Lan: 100–880, 100 là số xe tăng hiện đại, 880 là bao gồm cả các xe tăng từ thế chiến thứ nhất và tankettes. Tất cả các số liệu này đều có nguồn từ Encyklopedia PWN, bài viết trong 'Kampania Wrześniowa 1939' hoặc từ website của bộ ngoại giao Ba Lan.</ref>
| commander1 = <center>{{flagicon|Nazi Germany|1935}}</center>
|strength2=&nbsp;'''Đức''':<br />56 sư đoàn,<br />4 lữ đoàn,<br />9.000 khẩu pháo,<br />2.500 xe tăng,<ref name="polishgovernment">Ministry of Foreign Affairs. [http://www.ww2.pl/The,1939,Campaign,22.html The 1939 Campaign] [[Polish Ministry of Foreign Affairs]], 2005</ref> <br />2.315 máy bay<ref>E.R Hooton, p85</ref><br />&nbsp;'''Liên Xô''':<br />33+ sư đoàn,<br />11+ lữ đoàn,<br />4.959 khẩu pháo,<br />4.736 xe tăng,<br />3.300 máy bay<br />&nbsp;'''Slovakia''':<br />3 sư đoàn<br />'''Tổng cộng''':<br />1.500.000 lính Đức,<ref name="polishgovernment"/><br />800.000 Hồng quân,<br /> 50.000 lính Slovakia<br />'''Tổng cộng: 2.350.000'''
{{ubl|commander2={{flagicon|Nazi Germany}} [[Fedor von Bock]]<br /> <small>(Tập đoàn quân phía bắc)</small><br />{{flagicon|Nazi Germany}} [[Gerd von Rundstedt]]<br /> <small>(Tập đoàn quân phía nam)</small><br />{{flagicon|USSR|1923}} [[Mikhail Kovalev]]<br /> <small>(Phương diện quân Belorussia)</small><br />{{flagicon|USSR|1923}} [[Semyon Konstantinovich Timoshenko|Semyon Timoshenko]]<br /> <small>(Phương diện quân Ukraina)</small><br />{{flagicon|Slovakia|1938}} [[Ferdinand Čatloš]]<br /><small>([[Tập đoàn quân Bernolák]])</small>}}
|casualties1=&nbsp;'''Ba Lan''':<br />66.000 người chết,<ref name="Casualties">một số nguồn tài liệu khác nhau cho những số liệu không giống nhau. Con số phổ biến nhất trong phạm vi khác biệt trên là: thương vong của Ba Lan — 63.000 đến 66.300 người chết, 134.000 người bị thương; Đức- số người chết từ 8.082 tới 16.343, với số người mất tích từ 320 tới 5.029, tổng cộng thương vong vào khoảng 45.000. Sự không nhất quán trong ước tính số thương vong phía Đức có thể do thực tế rằng nhiều số liệu của Đức đã đưa luôn số lính Đức mất tích sau chiến tranh vào. Ngày nay con số phổ biến nhất và được chấp nhận là 16.343 lính Đức chết trong chiến đấu. Con số chính thức Liên Xô đưa ra là khoảng 737–1.475 người chết hoặc mất tích, và 1.859–2.383 người bị thương. Khoảng 420.000 tù binh Ba Lan đã bị người Đức bắt, con số này về phía Liên Xô là 250.000, tổng công số tù binh Ba Lan vào khoảng 660.000–690.000. Về trang thiết bị kỹ thuật, Đức mất khoảng 236 xe tăng và 1.000 phương tiện chuyên chở trong khi Ba Lan mất 132 xe tăng và 300 phương tiện chuyên chở, 107–141 máy bay Đức và 327 máy bay Ba Lan (118 khu trục cơ) (PWN Bách khoa toàn thư của Ba Lan cho số liệu mất 700 máy bay). Đức mất 1 tàu bắn thủy lôi nhỏ trong khi Ba Lan mất 1 khu trục hạm (ORP Wicher), 1 tàu bắn thủy lôi (ORP Gryf) và một số tàu tiếp tế. Liên Xô mất chừng 42 xe tăng trong khi hàng trăm chiếc khác lại gặp vấn đề về kỹ thuật.</ref><br />133.700 người bị thương,<br />694.000 người bị bắt
| commander2 = <center>{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}}</center>{{ubl|[[Edward Rydz-Śmigły]]<br /><small>(Nguyên soái Ba Lan)</small>
|casualties2=&nbsp;'''Đức''':<br />16.343 người chết,<br />27.280 người bị thương,<br />320 người mất tích<br />&nbsp;'''Liên Xô''':<br />737 người chết hoặc mất tích,<br />1.125 người bị thương<br />&nbsp;'''Slovakia''':<br />18 người chết,<br />46 người bị thương,<br />11 người mất tích<br />
|Wacław Stachiewicz<br /><small>(Tổng tham mưu trưởng)</small>
|Tadeusz Kutrzeba<br /><small>(Poznań)</small>
|Juliusz Rómmel <br /><small>(Łódź, Warszawa) </small>
|Antoni Szylling <br /><small>(Kraków)</small>
|Władysław Bortnowski <br /><small>(Pomorze)</small>}}
 
| units1 = {{Collapsible list
|title = Quân xâm lược
|'''{{flagicon|Nazi Germany|1935}} Tập đoàn quân phía Bắc'''
* |Quân đoàn 3
* |Quân đoàn 4
|'''{{flagicon|Nazi Germany|1935}} Tập đoàn quân phía Nam'''
* |Quân đoàn 8
* |Quân đoàn 10
* |Quân đoàn 14
|{{flagicon image|War ensign of the First Slovak Republic.svg}} Quân Bernolák
|'''{{flagicon|Soviet Union|1936}} Phương diện Belarussia'''
* |Quân đoàn 3
* |Quân đoàn 4
* |Quân đoàn 10
* |Quân đoàn 11
* Đội Kị binh cơ giới
|'''{{flagicon|Soviet Union|1936}} Phương diện Ukraine'''
* |Quân đoàn 5
* |Quân đoàn 6
* |Quân đoàn 12
}}
| units2 = {{Collapsible list
|title = Quân Ba Lan
|{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Karpaty <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Kraków <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Lublin (Đã cải tiến) <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Łódź <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Modlin <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Pomorze <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Poznań <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Prusy <br />
{{Flagicon image|Flag of Poland (1928-1980).svg}} Quân Warszawa (Đã cải tiến)
}}
|strength2 strength1 =&nbsp; '''Đức''':<br />5660 sư đoàn,<br />46 lữ đoàn,<br />9.,000 khẩu pháo,<br />2.500 xe tăngsúng,<ref name="polishgovernment">Ministry of Foreign Affairs. [http://www.ww2.pl/The,1939,Campaign,22.html The 1939 Campaign] [[Polish Ministry of Foreign Affairs]], 2005</ref><br />2,750 xe tăng,<br />2.,315 máy bay<ref>E.R Hooton, p85</ref><br />&nbsp;'''Liên Xô''':<br />33+ sư đoàn,<br />11+ lữ đoàn,<br />4.959 khẩu pháo,<br />4.736 xe tăng,<br />3.300 máy bay<br />&nbsp;'''Slovakia''':<br />3 sư đoàn<br />'''Tổng cộng''':<br />1.500.000 lính Đức,<ref name="polishgovernment"/><br />800.000 Hồng quân,<br /> 50.000 lính Slovakia<br />'''Tổng cộng: 2.350.000'''
'''Tới ngày 17 tháng Chín:'''<br />
'''Liên Xô''':<br />33+ sư đoàn,<br />11+ lữ đoàn,<br />4,959 khẩu pháo và súng,<br />4,736 xe thiết giáp,<br />3,300 máy bay<br />
----
'''Tổng cộng''':<br />1,500,000 quân Đức,<ref name=polishgovernment /><br /> 466,516-800,000 Hồng quân,<br />51,306 lính Slovakia<br />'''Tất cả: 2,000,000-2,350,000+'''
| strength2 = '''Ba Lan''':<br />39 sư đoàn
|strength1=&nbsp;'''Ba Lan''':<br />39(24 sư đoàn được huy động vào ngày 1 tháng 9),<br / > 16 lữ đoàn,<ref name=pereslegin>Переслегин. Вторая мировая: война между реальностями.- М.:Яуза, Эксмо, 2006, с.22; Р. Э. Дюпюи, Т. Н. Дюпюи. Всемирная история войн. — С-П,М: АСТ, кн.4, с.93</ref><br />4.300 khẩu pháo,<ref name = pereslegin>{{ru icon}} Переслегин. Вторая мировая: война между реальностями.— М.:Яуза, Эксмо, 2006, с.22; Р. Э. Дюпюи, Т. Н. Дюпюи. Всемирная история войн.—С-П,М: АСТ, кн.4, с.93.</ref><br />8804,300 súng,<ref name=pereslegin /><br />210 xe tăng chiến đấu,<br />670 [[tankette]]s<br>400 máy bay<ref name=polishgovernment>Ministry of Foreign Affairs. [http://www.ww2.pl/The,1939,Campaign,22.html The 1939 Campaign] [[Polish Ministry of Foreign Affairs]], 2005</ref><br /> '''Tổng cộng: 950.000'''<ref name="Strength">Một số nguồn tài liệu không giống nhau cho những số liệu khác nhau do đó con số này chỉ là con số ước tính gần đúng cho sức mạnh của 2 bên. Con số phổ biến nhất trong phạm vị khác biệt trên là: Đức 1.500.000 (con số chính thức của Bộ ngoại giao Ba Lan)- hoặc 1.800.000. Số xe tăng Ba Lan: 100–880, 100 là số xe tăng hiện đại, 880 là bao gồm cả các xe tăng từ thế chiến thứ nhất và tankettes. Tất cả các số liệu này đều có nguồn từ Encyklopedia PWN, bài viết trong 'Kampania Wrześniowa 1939' hoặc từ website của bộ ngoại giao Ba Lan.</ref>
----
'''Tổng cộng: 950,000-1,000,000'''<ref name="Strength">Một số nguồn tài liệu không giống nhau cho những số liệu khác nhau do đó con số này chỉ là con số ước tính gần đúng cho sức mạnh của 2 bên. Con số phổ biến nhất trong phạm vị khác biệt trên là: Đức 1.500.000 (con số chính thức của Bộ ngoại giao Ba Lan)- hoặc 1.800.000. Số xe tăng Ba Lan: 100–880, 100 là số xe tăng hiện đại, 880 là bao gồm cả các xe tăng từ thế chiến thứ nhất và tankettes. Tất cả các số liệu này đều có nguồn từ Encyklopedia PWN, bài viết trong 'Kampania Wrześniowa 1939' hoặc từ website của bộ ngoại giao Ba Lan.</ref>
| casualties1 =&nbsp; '''Ba LanĐức''':<br />66.000 người16,343 chết,<ref name="Casualties">một số nguồn tài liệu khác nhau cho những số liệu không giống nhau. Con số phổ biến nhất trong phạm vi khác biệt trên là: thương vong của Ba Lan — 63.000 đến 66.300 người chết, 134.000 người bị thương; Đức- số người chết từ 8.082 tới 16.343, với số người mất tích từ 320 tới 5.029, tổng cộng thương vong vào khoảng 45.000. Sự không nhất quán trong ước tính số thương vong phía Đức có thể do thực tế rằng nhiều số liệu của Đức đã đưa luôn số lính Đức mất tích sau chiến tranh vào. Ngày nay con số phổ biến nhất và được chấp nhận là 16.343 lính Đức chết trong chiến đấu. Con số chính thức Liên Xô đưa ra là khoảng 737–1.475 người chết hoặc mất tích, và 1.859–2.383 người bị thương. Khoảng 420.000 tù binh Ba Lan đã bị người Đức bắt, con số này về phía Liên Xô là 250.000, tổng công số tù binh Ba Lan vào khoảng 660.000–690.000. Về trang thiết bị kỹ thuật, Đức mất khoảng 236 xe tăng và 1.000 phương tiện chuyên chở trong khi Ba Lan mất 132 xe tăng và 300 phương tiện chuyên chở, 107–141 máy bay Đức và 327 máy bay Ba Lan (118 khu trục cơ) (PWN Bách khoa toàn thư của Ba Lan cho số liệu mất 700 máy bay). Đức mất 1 tàu bắn thủy lôi nhỏ trong khi Ba Lan mất 1 khu trục hạm (ORP Wicher), 1 tàu bắn thủy lôi (ORP Gryf) và một số tàu tiếp tế. Liên Xô mất chừng 42 xe tăng trong khi hàng trăm chiếc khác lại gặp vấn đề về kỹ thuật.</ref><br />133.700 người30,300 bị thương<br />236 xe tăng<br />246 máy bay<br />'''Slovakia''':<br />37 chết,<br />694.00011 ngườimất tích,<br />114 bị bắtthương<br />2 máy bay <br />
'''Liên Xô''':chết hoặc mất tích,<br />2,383 bị thương<br /> hoặc:<br /> 5,327 thương vong<br />43 xe tăng
----
'''Tổng thương vong''': '''59,000'''
| casualties2 = '''Ba Lan''':<ref name="Casualties">một số nguồn tài liệu khác nhau cho những số liệu không giống nhau. Con số phổ biến nhất trong phạm vi khác biệt trên là: thương vong của Ba Lan — 63.000 đến 66.300 người chết, 134.000 người bị thương; Đức- số người chết từ 8.082 tới 16.343, với số người mất tích từ 320 tới 5.029, tổng cộng thương vong vào khoảng 45.000. Sự không nhất quán trong ước tính số thương vong phía Đức có thể do thực tế rằng nhiều số liệu của Đức đã đưa luôn số lính Đức mất tích sau chiến tranh vào. Ngày nay con số phổ biến nhất và được chấp nhận là 16.343 lính Đức chết trong chiến đấu. Con số chính thức Liên Xô đưa ra là khoảng 737–1.475 người chết hoặc mất tích, và 1.859–2.383 người bị thương. Khoảng 420.000 tù binh Ba Lan đã bị người Đức bắt, con số này về phía Liên Xô là 250.000, tổng công số tù binh Ba Lan vào khoảng 660.000–690.000. Về trang thiết bị kỹ thuật, Đức mất khoảng 236 xe tăng và 1.000 phương tiện chuyên chở trong khi Ba Lan mất 132 xe tăng và 300 phương tiện chuyên chở, 107–141 máy bay Đức và 327 máy bay Ba Lan (118 khu trục cơ) (PWN Bách khoa toàn thư của Ba Lan cho số liệu mất 700 máy bay). Đức mất 1 tàu bắn thủy lôi nhỏ trong khi Ba Lan mất 1 khu trục hạm (ORP Wicher), 1 tàu bắn thủy lôi (ORP Gryf) và một số tàu tiếp tế. Liên Xô mất chừng 42 xe tăng trong khi hàng trăm chiếc khác lại gặp vấn đề về kỹ thuật.</ref><br />66,000 chết<br />133,700 bị thương<br />660,000–690,000 tù binh<br />132 xe tăng và xe bọc thép<br />327 máy bay<br />'''Tổng thương vong: 859,700–889,700'''
}}
{{Chiến trường châu Âu (Chiến tranh thế giới thứ hai)}}
Cuộc tấn công Ba Lan đã gây ra nhiều thương vong cho dân thường trong và cả sau cuộc chiến. Không những khắc họa sự chiến đấu xuất sắc của [[Wehrmacht|Quân đội Đức Quốc xã]] mà cuộc tấn công này còn thể hiện tội ác của họ.<ref name="ReferenceA">Seidner,''Marshal Edward Śmigły-Rydz Rydz and the defence of Poland'',312</ref> Lực lượng [[không quân]] [[Đức Quốc xã]] [[Không quân Đức|Luftwaffe]] đã tiến hành không kích vào các khu dân cư và thậm chí là các đoàn người tị nạn để nhằm khủng bố tinh thần người dân. Ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến, 1200 người, chủ yếu là dân thường tại thị trấn [[Viên]], đã chết sau cuộc tấn công kinh hoàng của Luftwaffe.
 
Ngoài việc tàn sát dân thường qua các cuộc [[không kích]], lực lượng [[Schutzstaffel|SS]] và [[Wehrmacht]] của quân đội Đức còn tiến hành xử tử hàng ngàn [[tù binh]] và những người dân bị chúng khép tội chống đối. Trong 1 chiến dịch thanh trừng người Ba Lan, 760 địa điểm tử hình đã được thành lập và trong chiến dịch đó, 20.000 người Ba Lan đã bị xử bắn. Ước tính có khoảng 150.000 thường dân Ba Lan chết trong cuộc giao tranh<ref>''Poland's Holocaust: Ethnic Strife, Collaboration with Occupying Forces and Genocide in the Second Republic, 1918-1947'' Tadeusz Piotrowski trang 301 McFarland, 1998</ref>, trong khi thiệt hại về thường dân Đức là khoảng 3.250 người (bao gồm cả hai2.000 người thuộc "đạo quân thứ năm", tức là các nhóm du kích gián điệp, chết trong khi chiến đấu chống lại quân đội Ba Lan.<ref>{{pl icon}} Tomasz Chinciński, ''[http://www.ipn.gov.pl/portal/pl/236/3740/nr_2_82005_8211_cena_3600_zl.html Niemiecka dywersja w Polsce w 1939 r. w świetle dokumentów policyjnych i wojskowych II Rzeczypospolitej oraz służb specjalnych III Rzeszy. Część 1 (marzec–sierpień 1939 r.)]''. Pamięć i Sprawiedliwość. nr 2 (8)/2005</ref>
 
[[Tập tin:Birkenau gate.JPG|250px|trái|nhỏ|Cổng vào [[trại tập trung Auschwitz]]]]
=== Liên Xô ===
[[Tập tin:Katyn - decision of massacre p1.jpg|nhỏ|phải|200px|Bản danh sách được [[Lavrentiy Beria]] gửi đến [[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]] ngày 5 tháng 3 năm 1940 đề nghị tử hình các sĩ quan Ba Lan]]
Trong quá trình [[Hồng Quân|Hồng quân Liên Xô]] chiếm miền Tây [[Ukraina]] và [[Belarus]], thoạt tiên Hồng quân được cư dân Ukraina và Belorussia ở đây nhiệt tình chào đón, tình hình này thay đổi khi Liên Xô bắt đầu với sự thành lập các nhóm du kích chống Xô viết của người gốc Ba Lan. Việc đó dẫn đến các cuộc bạo động chống Liên Xô ở các vùng mà nay là Tây Ukraina. Hàng ngàn người Ba Lan đã chết do chiến sự hoặc bị trục xuất khỏi nhà cửa. Những nhóm sắc tộc bị cho là có thể gây nguy hiểm bị buộc phải cưỡng bức tái định cư, bị đưa vào các trại lao động. Ngoài ra việc tấn công các nhóm du kích người Ba Lan còn tái diễn khi Hồng quân đánh đuổi quân Đức khỏi Đông Ba Lan năm 1944, với việc Liên Xô tiêu diệt nhóm du kích Ba Lan của Armia Krajowa, do họ đã quay sang chống lại Hồng quân sau khi Đức rút lui. Khoảng hơn một triệu người Do Thái đã chạy sang phần kiểm soát của Hồng Quân để thoát khỏi sự truy lùng của mật vụ Đức Quốc xã liền bị bộ Dân ủy nội vụ (NKVD) theo lệnh của Stalin bắt lên tàu và gửi lại cho quân Đức. Hàng ngàn người Do Thái Ba Lan bị đày ở Siberia và Bắc Cực.
 
Ngày nay, Ba Lan đã bắt đầu một cuộc điều tra về vụ [[xử bắn tại Katyn]], sự kiện xử bắn hàng ngàn [[sĩ quan]] Ba Lan tại [[rừng Katyn]] rồi chôn vào các nấm mồ tập thể năm [[1940]].<ref>[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2004/12/041201_katynmassacare.shtml Ba Lan điều tra thảm sát Katyn]</ref> Ngày [[5 tháng 3]] [[1940]], dân ủy Bộ Nội vụ Liên Xô ([[Bộ Dân ủy Nội vụ|NKVD]]) [[Lavrentiy Pavlovich Beriya|Lavrenty Beria]] gửi một danh sách mang mã số 794/B (794/Б) cho [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]]. Trong đó, người gửi đưa ra nhận định rằng các tù binh Ba Lan tại miền Tây Ukraina và Belorussia (gồm 14.736 người, 97% là người Ba Lan), cũng như những tù nhân đang bị giam trong tù (18.632 người, trong đó có 1.207 [[sĩ quan]] quân đội, tổng cộng 57% là người Ba Lan), bao gồm cả các giám mục Công Giáo, giáo sĩ Do Thái như Baruch Steinberg, trí thức, địa chủ,... đều là kẻ thù của chính quyền Xô Viết và không thể cải tạo được nên đề nghị tử hình 14.700 tù binh và 11.000 tù nhân.<ref>[http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=878 VỤ THẢM SÁT KATYN DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ (2)]</ref>.
 
Đến năm [[1987]], được sự đồng tình của lãnh đạo Liên Xô [[Mikhail Sergeyevich Gorbachyov|Gorbachev]], một ủy ban liên hợp Ba Lan – Liên Xô đã được thành lập với nhiệm vụ tìm hiểu và làm sáng tỏ thực tế. Cuối cùng, thông báo của Hãng Thông tấn Liên Xô ([[TASS]]) ngày [[14 tháng 4]] [[1990]] đã đưa ra một bước tiến trong vụ này: các lãnh đạo Liên Xô chính thức tuyên bố Beria (chỉ huy mật vụ Liên Xô khi đó, năm 1953 đã bị Nhà nước Liên Xô xử tử vì tội lạm sát và âm mưu đảo chính) và các đồng sự phải chịu trách nhiệm về vụ xử bắn các sĩ quan Ba Lan tại Katyn.<ref>[http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=968 VỤ THẢM SÁT KATYN DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ (8)]</ref>. Tháng 11 năm 2010, [[Đuma Quốc gia|Duma Quốc gia]] Nga đã thông qua một tuyên bố lên án I. V. Stalin và các quan chức Liên Xô khác vì đã ký lệnh cho vụ xử bắn tù binh này<ref name="Duma-Nov-2010">{{chú thích báo |title=Nghị viện Nga lên án Stalin về vụ thảm sát Katyn |author= |url=http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-11845315|newspaper=BBC News |date= 26 tháng 11 năm 2010|accessdate=3 tháng 8 năm 2011}}</ref>
141

lần sửa đổi