Khác biệt giữa các bản “Than đá”

Đi qua lịch sử lâu đời của nhân loại, than đã được xem như là một nguồn năng lượng, đơn giản đó là nguồn nguyên liệu để đốt và nhận được sản phẩm đáp ứng nhu cầu về điện sưởi ấm, và nó còn được dùng cho cả mục đích về công nghiệp, chẳng hạn như là dùng để chế biến kim loại. Than là nguồn năng lượng lớn nhất cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện và dẫn đầu cho thế hệ điện sau này của toàn thế giới. Nguồn gốc của việc sử dụng than đá đó chính là mục đích tìm nguyên liệu đốt liên quan đến môi trường và sức khỏe bao gồm: [[biến đổi khí hậu]]<ref name="psr_coal-damages-health"/>
 
==Nguồn [[gốc]]==
Than là một dạng [[nhiên liệu hóa thạch]], được hình thành từ [[thực vật]] bị chôn vùi trải qua các giai đoạn từ than bùn, và dần chuyển hóa thành than nâu hay còn gọi là than non (lignit), và thành than bán bitum, sau đó thành than bitum hoàn chỉnh (bituminous coal), và cuối cùng là biến đổi thành than đá (anthracit). Quá trình biến đổi này là quá trình phức tạp của cả sự biến đổi về sinh học và cả quá trình biến đổi của địa chất. Đặc biệt, quá trình biến đổi về địa chất là cả một quãng thời gian được tính bằng hàng triệu triệu năm.
 
Người dùng vô danh