Khác biệt giữa các bản “Minh Thành Tổ”

(Sử dụng Trung Văn phồn thể, phù hợp với thời đại hơn.)
Khi biết tin thua trận, Minh Huệ Đế rất lo lắng. [[Hoàng Tử Trừng]] tiến cử Tào quốc công [[Lý Cảnh Long]], vốn là cháu ngoại Thái Tổ, làm chủ tướng và được chấp nhận bất chấp sự phản đối của [[Tề Thái]]. Lý Cảnh Long dẫn theo 50 vạn đại quân tiến đến Hà Gian. Lúc này quân triều đình ở Liêu Đông tấn công Vĩnh Bình, Chu Đệ đem quân đi cứu và đánh lui quân triều đình. Nhân đà thắng lợi, Chu Đệ tấn công Đại Ninh, sáp nhập quân đội của Ninh vương. Lý Cảnh Long nghe tin Chu Đệ đi Liêu Đông liền hạ lệnh tấn công Bắc Bình. Có lần quân triều đình đã suýt phá được thành nhưng Lý Cảnh Long vì nghi ngờ nên đã hạ lệnh lui quân. Thời tiết tháng 10 ở Bắc Bình rất lạnh, Chu Cao Sí buổi tối sai người đổ nước lên tường thành, ngày hôm sau đã đóng băng làm quân triều đình không tấn công được. Quân triều đình là người phía nam nên không chịu được cái lạnh phía bắc. Chu Đệ đem quân về cứu Bắc Bình và đã đánh bại Lý Cảnh Long tại ngoại vị Bắc Bình vào tháng 11. Lý Cảnh Long thua chạy về Đức Châu, quân triều đình thương vong hơn 10 vạn người.
 
Tháng 4 năm 1400, Lý Cảnh Long tập hợp được 60 vạn quân và lần nữa tiến về phía bắc. Ngày 24 tháng 4, quân Yên và quân triều đình chạm trán nhau. Quân Yên ban đầu bị phục kích nên thua chạy. Quân triều đình đặt địa lôi trên đường khiến quân Yên tổn thất nặng. Ngày hôm sau, quân triều đình tấn công vào cánh của quân Yên, Chu Đệ tự thân chống trả bằng cách tấn công vào trung quân của Lý Cảnh Long và được sự hỗ trợ từ viện quân của Chu Cao Sí. Lúc này một cơn gió to làm gãy cờ chủ soái của Lý Cảnh Long làm chokhiến quân triều đình hoang mang gây ra hỗn loạn. Chu Đệ nhân cơ hội toàn lực phản kích, đánh bại quân triều đình. Hơn 10 vạn người theo hàng Chu Đệ và Lý Cảnh Long lại chạy về Đức Châu. Quân yênYên sau đó đánh hạ Đức Châu. Lý Cảnh Long chạy về Tế Nam, quân Yên đuổi theo bao vây Tế Nam. Lý Cảnh Long phải chạy về Nam Kinh. Mặc dù thua trận, thiệt quân và bị triều thần đàn hặc, Lý Cảnh Long vẫn được tha chết.
 
Một quan viên của Minh Huệ Đế đã hiến kế ly gián, Huệ Đế nghe theo, sai sứ giả mang tiền tài đến Bắc Bình, vốn đang được trấn thủ bởi con trưởng của Chu Đệ là Chu Cao Sí, cùng với lời hứa nếu giao nộp Bắc Bình sẽ được giữ lại tước vị Yên Vương và được thế tập về sau. Biết tính cha đa nghi, Chu Cao Sí bắt ngay sứ giả và đem cả người lẫn vật đến giao cho Chu Đệ ngoài tiền tuyến. Chu Đệ cho chém sứ giả, lại đem tiền đó thưởng cho Chu Cao Sí để khen thưởng vỗ về, bảo đảm cho hậu phương vững chắc. Chu Đệ còn cho người tung tin rằng mình là con đẻ của Mã Hoàng hậu để hợp pháp việc thừa kế ngai vàng. Ông còn phao tin rằng chính mình mới là người được Thái Tổ chọn để truyền ngôi nhưng đã bị Chu Tiêu và những kẻ ủng hộ cản trở.
 
=== Công phá kinh thành ===
Chu Đệ sau đó đã thay đổi chiến lược quân sự. Điều đầuĐầu tiên, ông đặt trọng tâm quân đội vào kỵ binh Mông Cổ. Trong khoảng thời gian 20 năm nắm quyền tại miền Bắc Trung Quốc, có nhiều bộ lạc Mông Cổ đã đầu hàng và hết lòng trung thành với ông. Thời gian đầu cuộc chiến nhờ lực lượng này đã giúp ông sống sót các cuộc tấn công của triều đình. Nhưng lực lượng tinh nhuệ này không thể chịu được sự tấn công của kỵ binh hoàng gia. Điều thứ hai, trái với quân của Chu Đệ chỉ huy, quân của Huệ Đế giành được sự trung thành rất lớn từ quân đội và trong nhân dân. Điều thứ 3ba, thay vì tấn công Nam Kinh, nơi có phòng thủ tốt thì Chu Đệ lại dẫn quân về phía Tây. Trận chiến xảy ra nhưng quân của Huệ Đế đã không thể đánh bại Chu Đệ.
 
Nhờ vào tin tình báo từ các tướng lĩnh và hoạn quan bị Huệ Đế ngược đãi, Chu Đệ đã lập nên một chiến thuật đánh-và-chạy vào các kho lương dọc suốt Đại Vận Hà, trong khi tránh giao tranh trực tiếp với đại quân triều đình. Cho đến năm 1402, quân của Chu Đệ đã tấn công và cướp phá Từ Châu, Tô Châu và Dương Châu. Vào mùa xuân năm 1402, Chu Đệ chọc thủng phòng tuyến quân sự và dẫn quân xuống phía Nam [[sông Dương Tử]] khi bí mật mua chuộc người bên phe hoàng đế. Nhờ tướng Trần Tuyên phản bội, Chu Đệ đã nắm được trong tay hạm đội sông Dương Tử và dễ dàng vượt sông. Ngày 13-7-1402 cổng thành Nam Kinh mở do sự phản bội của Lý Cảnh Long và một người em cùng cha khác mẹ của Chu Đệ là Cốc Vương Chu Huệ. Trong lúc hỗn loạn, cung điện đã bị đốt cháy, Chu Đệ tìm thấy 3 xác chết cháy đen không còn nhận dạng được nên mọi người cho rằng Huệ Đế tự sát cùng hoàng hậu và con trai cả (nhưng cũng có truyền thuyết cho rằng xác chết cháy là giả, còn Huệ Đế thật thì đã bỏ trốn bằng đường hầm và mai danh ẩn tích từ đó).
Thảm án ''"giết mười họ"'' của Phương Hiếu Nhụ dưới thời Chu Đệ vẫn thường được nhắc tới như bi kịch gia tộc đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc. Đây cũng là một trong những sự việc khiến vị Hoàng đế thứ ba của Nhà Minh là Minh Thành Tổ Chu Đệ bị hậu thế đánh giá là ''"tàn bạo", "hám sát".''
 
Tương truyền rằng, Mộtmột quan viên trung thành của Huệ Đế là Phương Hiếu Nhụ, vốn được coi là bậc đại nho đương thời. Khi Nam Kinh đã bị công phá, Chu Đệ sau khi sai người dập tắt lửa trong cung, bèn triệu văn học sĩ Phương Hiếu Nhụ đến khởi thảo chiếu thư để mình lên kế vị. Phương Hiếu Nhụ là trung thần của Kiến Văn Vương, ông mặc bộ đồ tang vừa đi vừa khóc bước vào điện, không thi lễ mà chỉ đứng khóc. Chu Đệ thấy vậy nói rằng: ''"Ta cũng là noi gương Chu Công phù trợ Thành vương mà thôi"''. Phương Hiếu Nhụ ngừng khóc hỏi Thành Vươngvương hiện ở đâu, thì Chu Đê nói đã bị lửa thiêu chết rồi. Phương Hiếu Nhụ lại hỏi: ''"Thế sao không lập con của Thành Vương?"''. Chu Đệ đáp: ''"Nhà nước đang cần một ông vua đứng tuổi"''. Phương Hiếu Nhụ giận dữ quát lên rằng: ''"Thế sao không lập em của Thành Vương?".''
 
Chu Đệ không biết đối đáp ra sao, liền bước xuống điện đến trước mặt Phương Hiếu Nhụ nói rằng: ''"Đó là việc trong nhà ta, tiên sinh hà tất phải hao tâm tốn sức "''. Bấy giờ, người hầu đem giấy bút ra, Chu Đệ nói rằng: ''"Việc viết chiếu thư, phi tiên sinh không có người nào khác"''. Phương Hiếu Nhụ giật lấy giấy bút, viết lên chữ "Yên tặc soán ngôi" rồi quăng bút xuống thềm điện, vừa khóc vừa nói rằng ''"Chết thì thôi, chứ đừng hòng mong tôi viết chiếu thư "''. Chu Đệ nổi giận quát lên rằng: ''"Ta không để ngươi chết ngay được, chẳng lẽ ngươi không sợ ta Tru di cửu tộc (giết cả chín họ) ư?"''. Phương Hiếu Nhụ cũng gân cổ lên nói rằng: ''"Tru di thập tộc đã làm gì được ta nào".''
Còn Tề Thái, Hoàng Tử Trình cũng bị xử lăng trì và [[Tru di]] tam tộc.
 
Lưu Đoan là người chủ trì chùa Đại Lý đã bỏ trốn rồi sau bị bắt dẫn đến trước điện, Chu Đệ hỏi rằng: ''"Phương Hiếu Nhụ là người thế nào ?"''. Lưu Đoan cười đáp: ''"Là trung thần".'' Chu Đệ lại hỏi: ''"Còn ông bỏ chùa chạy trốn có coi là trung thần không ?"''.Lưu Đoan cứng cỏi đáp: ''"Tôi cũng vì muốn sống để sau này báo thù mà thôi"''. Chu Đệ nổi giận liền sai người cắt mũi và tai Lưu Đoan, rồi cười hỏi Lưu Đoan máu me đầy mặt rằng: ''"Bây giờ ngươi mặt mũi thế này còn coi là người nữa không?"''. Lưu Đoan đáp: ''"Khuôn mặt ta là mặt trung thần hiếu tử, chết xuống âm phủ còn có mặt mũi gặp thái tổ hoàng đế".'' Chu Đệ càng thêm bực tức, liền vung gậy đập chết Lưu Đoan.
 
Chu Đệ cả thảy đã giết hơn 10 nghìn trung thần của Kiến Văn Đế cùng gia quyến, trong lịch sử chưa từng có vụ tàn sát quan lại đối phương quy mô như vậy. 22 năm sau, khi [[Minh Nhân Tông|Chu Cao Sí]] con trai của Chu Đệ lên nối ngôi, mới hạ chiếu phế bỏ kiếp nô lệ cho gia quyến của các trung thần triều đại Kiến Văn Đế.
 
== Chính sách đối nội ==
Giống như cha mình Chu Nguyên Chương, Chu Đệ là một vị hoàng đế chăm chỉ và nghiêm khắc. Ông không đắm mình vào xa hoa chốn cung đình mà luôn thể hiện người năng động và táo bạo.
 
=== Lại trị ===
Minh Thành Tổ cho thực hiện cuộc tái thiết lớn Đại Vận hà, trong những năm ông trị vì công trình [[Đại Vận Hà|Đại Vận hà]] gần như đã được hoàn thành và Đại Vận hà được dùng để di chuyển các hàng hóa nhập khẩu đến từ khắp nơi trên thế giới. Việc này cũng giúp cho giao thông phát triển, lương thực từ phía nam có thể dễ dàng vận chuyển ra phía bắc đảm bảo cho các cuộc chinh phạt Mông Cổ của hoàng đế.
 
Việc tiếp theo của Minh Thành Tổ là muốn dời đô về phía bắc mà kinh đô chính là Bắc Bình, thủ phủ cũ của ông khi còn là Yên Vươngvương, mặc dù vấp phải nhiều sự phản đối của các đại thần, phần nhiều là do tổ huấn của vua cha Thái Tổ phải định đô ở Kim Lăng để tránh sự xâm lược từ [[Nhung Địch]] phía bắc. Nhưng sau khi được một số tướng lĩnh khuyên can rằng Kim Lăng nằm ở vị trí dễ bị công phá bởi pháo binh và không tin tưởng vào hệ thống phòng thủ của thành phố do nhìn vào tấm gương của Minh Huệ Đế, cộng thêm tư tưởng: "Thiên tử thủ biên cương", Vĩnh Lạc vẫn quyết định dời đô về Bắc Bình và cho đổi tên là Bắc Kinh (hay Yên Kinh) còn Kim Lăng đổi thành Nam Kinh. Nam Kinh vẫn có Lục bộ riêng và được trấn thủ bởi em vợ của hoàng đế, con trai út của đại tướng khai quốc [[Từ Đạt]]. Ở Bắc Kinh, Minh Thành Tổ cho thực hiện một mạng lưới công trình đồ sộ, một nơi mà có thể đặt được các cơ quan chính phủ và là nơi cư trú cho các thành viên hoàng thất. Để thực hiện công trình này Minh Thành Tổ đã cho huy động hơn 10 vạn dân phu, và sau 13 năm (1407-1420), [[Tử Cấm Thành|Tử Cấm thành]] đã được hoàn thành và trở thành thủ đô cho hai đế quốc [[Nhà Minh|Minh]]-[[Nhà Thanh|Thanh]] trong 500 năm tiếp theo.
 
Trong khi Minh Thái Tổ muốn bản thân và con cháu được [[chôn cất|chôn]] ở Hiếu lăng, Nam Kinh thì việc dời đô của Thành Tổ đã làm xuất hiện một việc cấp thiết là phải kiến tạo một [[lăng mộ]] hoàng gia mới. Sau khi được cố vấn bởi các thầy địa lý [[phong thủy]], Minh Thành Tổ chọn một vùng đất phía bắc thành Bắc Kinh làm nơi xây dựng mộ phần của mình và các hoàng đế tiếp theo. Trong hơn 200 năm tiếp theo, 13 vị hoàng đế Nhà Minh đã được [[chôn cất]] tại đây.
 
==== Lần thứ hai ====
Triều đình nhà Nhà Minh ngày càng coi thường và có thái độ tiêu cực với Ngõa Lạt. Minh Thành Tổ từ chối khen thưởng cho Mahmud và quân Ngõa Lạt, những người đã chiến đấu chống lại Bunyashiri và Arughtai. Mahmud ngày càng tức giận vì bị coi thường bởi vua Minh và đã bắt giữ sứ đoàn Nhà Minh, nên Vĩnh Lạc phải phái một hoạn quan đến đảm bảo an toàn và phóng thích cho sứ đoàn.
 
Cảm thấy bị đe dọa, Mahmud đã huy động 3 vạn quân Ngõa Lạt Mông Cổ tiến đến sông Kerulen chống lại Nhà Minh vào năm 1413. Cuối năm đó, Arughtai thông báo cho Nhà Minh là Mahmud đã vượt sông Kerulen chuẩn bị khai chiến với quân Minh. Tháng 4 năm 1414, Vĩnh Lạc xuất quân khỏi Bắc Kinh để đối đầu với Ngõa Lạt. Quân Minh tiến đến Kerulen, và gặp phải quân Ngõa Lạt ở thượng nguồn sông Tula. Quân Ngõa Lạt bị choáng với các cuộc pháo kích của pháo binh Nhà Minh nên bị tổn thất nghiêm trọng và buộc phải rút lui. Mahmud trốn thoát cùng với Delbek, một khả hãn bù nhìn. Vĩnh Lạc khải hoàn về Bắc Kinh vào tháng 8.
Khi về già Minh Thành Tổ rất dễ nổi giận và khó kiềm chế được tính khí của mình, thậm chí những lúc đó bản tính độc ác, tàn bạo trong ông lại trỗi dậy, cộng thêm với bệnh tật dày vò càng khiến ông ta trở nên vô cùng đáng sợ.
 
Năm 1424, Minh Thành Tổ lần thứ 5 xuất chínhchinh đại mạc. Bất lực khi không thể đuổi theo kẻ địch nhanh nhẹn, Vĩnh Lạc đế từ bực bội chuyển sang trầm cảm, rồi thành bệnh mà chết khi đang hành quân về [[Bắc Kinh]] vào tháng 8 năm đó, thọ 64 tuổi. Tin ông mất được giữ kín, cho đến lúc về đến Bắc Kinh mới phát tang. Con trưởng ông là Thái tử Chu Cao Sí lên nối ngôi, tức là [[Minh Nhân Tông]]. Minh Thành Tổ được [[chôn cất]] ở Trường Lăng trong Minh Thập Tam Lăng, phía bắc Bắc Kinh.
 
Ngày Mậu Ngọ, tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 22, hơn 30 phi tần được lựa chọn để tuẫn táng dùng cơm tại ngoài điện, sau đó được đưa vào trong điện, lúc này ''"tiếng khóc của các cung nữ rung cả cung điện"''. Trong điện đặt hơn ba mươi chiếc ''"giường gỗ nhỏ"'', những phi tần bị buộc đi vào cõi chết đó được lệnh đứng lên giường gỗ, trên đỉnh đầu họ là những sợi dây thừng để tự treo cổ đã chuẩn bị sẵn, ''"chui đầu vào cái vòng, đạp đổ giường, rồi nghẹt thở mà chết"''.Sau khi ăn cơm xong, những người này bị đưa vào điện đường, tuẫn táng cùng Hoàng đế, tiếng khóc than vang trời.
48

lần sửa đổi