Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trịnh Tùng”

n
clean up, replaced: → (4) using AWB
Không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (clean up, replaced: → (4) using AWB)
Mùa đông năm đó, Trịnh Tùng kéo quân đánh phá Trường Yên và Thiên Quan tiến ra vùng tây nam, đến huyện Mỹ Lương<ref group="Ghi chú">Đất huyện Mỹ Lương cũ, nay là huyện Chương Mỹ, thành phố [[Hà Nội]] và huyện Lương Sơn, tỉnh [[Hòa Bình]].</ref>. [[Nhà Mạc]] sai [[Mạc Ngọc Liễn]] dẫn quân từ huyện An Sơn; [[Nguyễn Quyện]] từ huyện Chương Đức vượt sông Do Lễ<ref group="Ghi chú">Xã [[Do Lễ]], huyện [[Chương Đức]]</ref> đến kháng cự, bố trí đặt mai phục ở miền sơn cước, và tìm cách cắt đường chuyển lương của quân Trịnh. Trịnh Tùng qua do thám biết được mưu đồ của kẻ thù, bèn sai đại tướng [[Hoàng Đình Ái]] cấp tốc đang đêm tiến lén về để giữ Thanh Hoa, [[Hà Thọ Lộc]] và [[Ngô Cảnh Hựu]] ở lại canh giữ binh lương ở phía sau. Lại cử [[Nguyễn Hữu Liêu]] và [[Trịnh Đỗ]], từ đường phía tả, xuất quân đi cầm cự với [[Mạc Ngọc Liễn]] để phân tán thế lực của địch. Còn bản thân Trịnh Tùng đốc quân do đường bên phải kéo ra, tiến đánh Nguyễn Quyện. Quân của Quyện thua chạy, phục binh cũng tan vỡ nốt. Quan quân chém hơn 100 quân địch, truy kích đến nửa ngày mới thôi{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}. Hôm sau, quân Nam triều tấn công các huyện An Sơn, Thạch Thất; tuy nhiên khi đó đã là cuối năm nên Trịnh Tùng rút quân về.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=628}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}. Kể từ đó [[Nguyễn Quyện]] khiếp sợ trước Trịnh Tùng, mỗi lần gặp quân của ông đều trốn tránh không dám xông lên nữa. Nhân đà thắng lợi, qua ngày hôm sau Trịnh Tùng đem đại quân tiến đóng Hoàng Sơn, và các huyện An Sơn, Thạch Thất, đều phá được cả. Tuy nhiên bấy giờ đã vào cuối năm nên Trịnh Tùng quyết định cho quân lui về Thanh Hóa. Nhà Mạc cũng cho đắp thêm lũy đất ngoài thành Đại La để ngăn chặn quân Lê - Trịnh{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}.
 
Cuối năm [[1588]], Trịnh Tùng lại rầm rộ kéo quân ngoài cửa ải Trường Cát, đánh phá Trường Yên và Thiên Quan, vượt sông Chính Đại,<ref group="Ghi chú">Trang [[Chính Đại]], huyện [[Tống Sơn]] tỉnh [[Thanh Hóa]]</ref>. Đến trại Dương Vũ<ref group="Ghi chú">Thuộc xã [[Dương Vũ]], huyện [[Yên Khánh]], tỉnh [[Ninh Bình]]</ref>, ông đóng quân ở lại đến đến hơn một tuần. Quân Mạc cố thủ không ra đánh. Trịnh Tùng giả đò dùng kế đốt doanh trại rút quân về để nhử định, nhưng kỳ thực đã đặt kỳ binh và voi ngựa mai phục ở phía sau. Khi quân Mạc từ trong lũy kéo ra truy kích thì gặp phải phục binh đánh úp, tổn thất vài trăm nhân mạng. Trịnh Tùng lại chuyển quân quay về núi Tam Điệp<ref group="Ghi chú">Chỗ chia cắt hai tỉnh [[Ninh Bình]] và [[Thanh Hóa]]</ref>, hạ lệnh cho quân bố trí phòng thủ ở cửa biển Linh Trường<ref group="Ghi chú">Nay là cửa biển Y Bích, thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hoa.</ref> để chặn thuyền giặc kéo tới.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=628-629}}.
 
Mùa đông năm [[1589]], Trịnh Tùng lại dẫn quân tấn công huyện Trường Yên. [[Nhà Mạc]] sai [[Mạc Đôn Nhượng]] đóng quân ở Yên Mô<ref group="Ghi chú">Huyện [[Yên Mô]], tỉnh [[Ninh Bình]]</ref> tiếp chiến. Trịnh Tùng bàn mưu với các tướng
Mùa hạ năm [[1600]], [[Nguyễn Hoàng]] xúi giục bọn tướng cũ của [[nhà Mạc]] gồm Kế quận công [[Phan Ngạn]], Tráng quận công [[Ngô Đình Nga]], Mỹ quận công [[Bùi Văn Khuê]] nổi lên chống lại nhà Lê, theo về họ Mạc. [[Nguyễn Hoàng]] xin được cầm quân đánh dẹp rồi bí mật đốt hết doanh trại, trốn về Thuận Hoá. Lòng người trong kinh kì dao động, Trịnh Tùng phò vua [[Lê Kính Tông]] chạy về Thanh Hoa.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=656}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=681}}. Các thế lực cũ của nhà Mạc nổi lên, đón Bùi thị là thứ mẫu của [[Mạc Mậu Hợp]] tiếm xưng Quốc mẫu ra coi chầu, và rước [[Mạc Kính Cung]] từ Cao Bằng về Thăng Long.
 
Ngày [[24 tháng 6]] năm [[1600]], [[Phan Ngạn]] nghi ngờ [[Bùi Văn Khuê]] có ý làm phản nên giết đi. Vợ của Khuê là [[Nguyễn Thị Niên]] bèn dụ giết [[Phan Ngạn]] để báo thù cho chồng{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=656}}. Trịnh Tùng được tin về những biến động ở nói trên, nhận ra thời cơ thu phục kinh thành đã tới. Ông đem thủy bộ cùng xuất phát từ An Trường<ref group="Ghi chú">Huyện [[Thụy Nguyên]], phủ [[Thiệu Hóa]], [[Thanh Hoa]]</ref>. [[Nguyễn Khải]] dẫn quân bộ đi đầu, phá được giặc ở cửa sông Giáng, còn quân thủy đi theo sông Ninh Giang ra cửa sông Hát, thuận dòng nước mà xuôi xuống, xông thẳng vào Đông Kinh. Quân triều đình đi đến Gián Khẩu thì gặp tướng nhà Mạc là bọn quận Vân đem thủy quan đến chặn đường. Trịnh Tùng phát lệnh cho các quân xông lên đánh mạnh, bắn gấp. Binh thuyền của quận Vân thua lớn, bỏ chạy{{sfn|Nguyễn Khoa Chiêm|1990|p=25}}. Quân Lê-Trịnh tái chiếm Thăng Long, Bùi thị bị giết, [[Mạc Kính Cung]] chạy về Cao Bằng, còn [[Ngô Đình Nga]] bị bắt xử tử.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=657}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=682}} Vài ngày sau, em của [[Phan Ngạn]] là quận Quỳnh ra thú tội, Trịnh Tùng hạ lệnh tha tội cho ông này. Ngày [[2 tháng 8]] năm đó, ông cho đón vua Lê về kinh đô{{sfn|Nguyễn Khoa Chiêm|1990|p=25}}.
 
Bấy giờ Phù quốc hầu [[nhà Mạc]] là [[Nguyễn Dụng]] cũng nổi dậy, năm [[1601]] Trịnh Tùng đích thân hành đem đại quân đánh dẹp. Quân tiến đến Lãnh Giang<ref group="Ghi chú">Thuộc địa phận xã [[Lãnh Trì]], huyện [[Nam Xang]], [[Hà Nội]]</ref>, Dụng chống cự, tiền quân của chúa bị thiệt hại. Tùng bèn khuyến khích tướng sĩ, quân lính đều hết sức liều chết tiến đánh, phá tan được quân giặc, chém được Dụng và Nga quận công ở mặt trận, thu được nhiều chiến lợi phẩm. Lại sai [[Hoàng Đình Ái]] đánh Hải Dương, [[Mạc Kính Cung]] phải chạy lên Lạng Sơn, vùng Hải Dương được bình định.{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=682}}
[[Mạc Kính Cung]] sau mấy lần thua trận, phải chạy lên Lạng Sơn. Sau khi tập hợp lại lực lượng, Kính Cung lại quấy phá Thái Nguyên. Năm [[1609]], chúa sai em là [[Trịnh Đỗ]] cùng [[Nguyễn Danh Thế]] đem quân tới kinh lý, Kính Cung thua chạy. Về sau, cháu Kính Cung là Kính Khoan lại tự xưng vương, đặt niên hiệu, quản lý vùng Vũ Nhai, Đại Từ<ref group="Ghi chú">Nay thuộc tỉnh [[Thái Nguyên]]</ref>. Mùa xuân năm [[1618]], Trịnh Tùng sai con là [[Trịnh Tráng]], [[Trịnh Xuân]], cùng bọn [[Nguyễn Cảnh Kiên]], [[Nguyễn Văn Giai]], [[Tạ Thế Thúc]], [[Nguyễn Khải]]... tiến đánh, quân Mạc thua trận. Sau đó ông lại sang [[Trịnh Lâm]] và [[Trịnh Bảng]] đánh Vũ Nhai và cũng thắng lớn.{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=683}}
 
Ngày [[12 tháng 2]] năm [[1619]], phủ chúa Trịnh bị hỏa hoạn, bắt đầu từ cửa Vương phủ, sau lan ra phố phường hai bên, cháy vào đến lầu cửa Đoan Môn của Triều đường và các nhà trực hai bên tả hữu đều cháy hết sạch{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=663}}. Mùa hạ năm đó, [[Lê Kính Tông]] vì thấy Trịnh Tùng chuyên quyền quá lắm, nên không chịu được. Biết con thứ của Trịnh Tùng là [[Trịnh Xuân]] tranh ngôi với [[Trịnh Tráng]], nên nhà vua bàn mưu với Xuân giết chúa, rồi quyền bính sau này sẽ trao cho Xuân.{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=687}} Xuân nghe tin chúa sẽ ra bến Đông Hà xem đua thuyền, bèn sai thuộc hạ là Văn Đốc đặt địa lôi và phục súng ở cạnh ngã ba đường. Quả nhiên chúa có đến lầu ở bờ sông. Khi về, thường chúa cưỡi voi. Hôm ấy, chúa thấy trong lòng không yên, cho voi ngựa và nghi vệ đi trước, còn tự mình ngồi kiệu đi sau. Đến chỗ ngã ba, có tiếng súng nổ, bắn gãy cây lọng tía. Vội sai truy bắt, thì bắt được Văn Đốc cùng đồ đảng, đem về phủ tra hỏi, y khai ra nhà vua cùng Vạn quận công (Xuân). Trịnh Tùng sai Trấn quận công Trịnh Lâm và Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm vào điện xét hỏi tả hữu, thì biết hết sự việc.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=636}}
 
Ngày [[23 tháng 6]], Trịnh Tùng ngự ra phủ đường, tập hợp bách quan; thân bưng mâm vàng trầu cau bước ra, cùng triều thần luận tội. [[Nguyễn Danh Thế]], [[Lê Bật Tứ]], [[Nguyễn Duy Thì]] đều đề nghị xử tử Trịnh Xuân và phế truất nhà vua. Trịnh Tùng nghĩ tình cha con không nỡ giết, chỉ lệnh bắt Trịnh Xuân, bãi hết quan tước, binh quyền, giam vào nội phủ. Rồi lại cho giết bọn Văn Đốc. Sau đó ông ép [[Lê Kính Tông]] phải thắt cổ tự vẫn,{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=664}}{{sfn|Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng|2005|p=82}} vẫn cho táng theo lễ thiên tử; nhưng không đưa vào thờ ở thái miếu mà lập một điện riêng để thờ cúng, dâng thuỵ là "Giản Huy Đế" táng ở lăng Bố Vệ{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=688}} (đến năm [[1631]] mới dâng [[miếu hiệu]] là Kính Tông).{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=670}}) Đến năm [[1620]] thì [[Trịnh Xuân]] được thả ra, nắm lại binh quyền.
== Nhận định ==
 
Năm [[1597]], vua [[nhà Minh]] sai [[Trần Đôn Đức]] cùng [[Vương Doãn Lâp]] đem ngựa tốt, đai bằng ngọc, mũ sung thiên và hai bức sắc văn có viết tám chữ: "Quang hưng tiền liệt, định quốc nguyên huân" (làm rực rỡ công đức tổ tiên và có công đầu định được nước), tặng cho [[Trịnh Tùng]]. Đích thân [[Minh Thần Tông]] có lời khen<ref>Trịnh gia chính phả, trang 89</ref>
:''Nước An Nam, tướng họ Trịnh hay hậu được nghĩa nhân, giúp được nhà Lê tiểu trừ giặc Mạc, thực là bực anh hùng trong đời.''
 
 
Theo giáo sĩ [[Alexandre de Rhodes]]{{sfn|Alexandre de Rhodes|1994|p=19}}
''...(Chúa) trị nước rất khôn khéo, dùng võ lực rất hùng mạnh, lại rất kiên trì và chịu đựng gian khổ do chiến tranh trong 40 năm thì sau cùng đuổi được quân nghịch thần đã cướp đoạt bốn tỉnh trong nước và hạ được cường bạo lập ngôi vương. Thanh thế ông vang lừng và ông bắt toàn dân [[Đàng Ngoài]] phải đồng tình để cho ông lấy danh hiệu Vương, tiếng chữ Hán có nghĩa vua, theo tiếng Đàng Ngoài. Thế là chính nhà vua trị vì lúc đó cũng chấp nhận, không những để ông lấy danh hiệu là chúa mà còn nắm hết chức vụ và mọi quyền, và mọi người cũng bằng lòng.''
 
[[Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục]] thường phê phán Trịnh Tùng là một gian thần ức hiếp vua, và nhận xét về việc lập [[Lê Thế Tông]] năm [[1573]] của Trịnh Tùng:
* {{Chú thích sách|ref={{harvid|Trịnh Như Tấu|1933}}|tác giả=Trịnh Như Tấu |lk tác giả =Trịnh Như Tấu| đồng tác giả = | title=Trịnh giai chính phả|cuốn=1|edition=|năm gốc = | year=1933|language=tiếng Việt |publisher=|location=}}
* {{Chú thích sách|ref={{harvid|Tạ Chí Đại Trường|2009}}|tác giả=Tạ Chí Đại Trường |lk tác giả =Tạ Chí Đại Trường| đồng tác giả = | title=Bài sử khác cho Việt Nam|cuốn=1|edition=|năm gốc = | year=2009|language=tiếng Việt |publisher=Nhà xuất bản Kệ sách|location=}}
* {{Chú thích sách|ref={{harvid|Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng|2005}}|tác giả=Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng |lk tác giả =Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng| đồng tác giả = | title=Các triều đại Việt Nam|cuốn=1|edition=|năm gốc = | year=2005|language=tiếng Việt |publisher=Nhà xuất bản Thanh niên|location=}}
* {{Chú thích sách|ref={{harvid|Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quỳnh (1999)|2005}}|tác giả=Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quỳnh |lk tác giả =Đinh Xuân Lâm| đồng tác giả = | title=Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam|cuốn=1|edition=|năm gốc = | year=1999|language=tiếng Việt |publisher=Nhà xuất bản Giáo dục|location=}}
* {{citation|author=Quốc sử quán triều Nguyễn|authorlink=Quốc Sử Quán|editor= |others= |title= Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục|url=https://quangduc.com/images/file/KZPU77gk0AgQAKVI/kham-dinh-viet-su-thong-giam.pdf|location = Hà Nội|year=1998|isbn= | ref = harv }}
* [[Đại Việt sử ký tục biên|Đại Việt Sử Ký Tục Biên]],Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.