Khác biệt giữa các bản “Bích nham lục”

không có tóm lược sửa đổi
==Tổng quan lịch sử và nội dung==
'''Bích nham lục''' (zh. ''bíyánlù'' 碧巖錄, ja. ''hekigan-roku'') có nguyên tên là ''Phật Quả Viên Ngộ Thiền sư Bích nham lục'' (zh. 佛果圓悟禪師碧巖錄), cũng được gọi ngắn là ''Bích nham tập'', được tìm thấy trong [[Đại Chính Tân Tu Đại tạng kinh]], tập 48, mang kinh số 2003, (Taishō Tripiṭaka, Vol. 48, No. 2003).
 
 
Nhưng nguồn gốc chính của sách này xuất phát từ Thiền sư [[Tuyết Ðậu Trọng Hiển]]. Sư chọn lựa trong nội điển, ngoại điển và văn sử một trăm tắc công án và viết thêm vào những câu tụng để hướng dẫn những người hiếu học, được gọi là ''Tuyết Ðậu tụng cổ'' (zh. 雪竇頌古). Những lời tụng này là những tuyệt tác trong thiền ngữ và văn thơ Trung Quốc. Thiền sư Viên Ngộ lấy trứ tác này làm sườn và bổ sung thêm. Nhìn chung, cấu trúc của mỗi công án trong ''Bích nham lục'' có thể được nêu như sau:
 
#''Thuỳ thị'' (zh. 垂示, ja. ''suiji''), lời dẫn của Thiền sư Viên Ngộ nhằm giúp thiền sinh hướng tâm về nội dung chính của bản công án;
#''Bản tắc'' (zh. 本則, ja. ''soku''), bản công án chính của Thiền sư Tuyết Ðậu, thỉnh thoảng cũng được kèm theo lời bình;
#''Trước ngữ của sư Viên Ngộ'' về bài tụng của Tuyết Ðậu;
#''Bình xướng của Viên Ngộ'' về bài tụng của Tuyết Ðậu.
 
Vì cấu trúc của bản văn có nhiều tầng lớp nên Bích nham lục cũng nổi danh là một quyển sách cực kì phức tạp trong tất cả các loại thiền ngữ. Về sau, đồ đệ của Viên Ngộ là Phổ Chiếu biên chép lại để tên là ''Bích nham lục''—vì tấm bảng trên ngạch trượng thất tại viện Linh Tuyền đề là Bích Nham.
 
Chính vì tinh hoa và trình độ văn chương tuyệt hảo của ''Bích nham lục'' nên nhiều Thiền sư sau này không thích dùng nó chỉ dạy thiền sinh mà chú trọng quyển ''Vô môn quan'' hơn. Khả năng đam mê chữ nghĩa khi đọc ''Bích nham lục'' của những thiền sinh rất lớn và chính đệ tử của Viên Ngộ là Thiền sư [[Ðại Huệ Tông Cảo]] cũng đã nhận thấy điều này. Sư chứng kiến được cảnh đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú trong sách làm nhu yếu biện luận tri giải mà quên lời dạy của những Tổ sư “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” (zh. 教外別傳不立文字). Vì thế, Sư đem tất cả những bản có sẵn ra đốt sạch và hai trăm năm sau đó ít ai thấy được quyển sách này. Ðầu thế kỉ 14 có vị Cư sĩ tên Trương Minh Viễn góp nhặt các bản còn sót mọi nơi, tham khảo bổ túc qua lại và cũng từ đây ''Bích nham lục'' lại được ra mắt độc giả.
 
Văn hào nổi danh của CHLB Ðức Hermann Hesse viết như sau về ''Bích nham lục'' sau khi đọc bản dịch của giáo sư W. Gundert, xuất bản năm 1960:
 
:''Tác phẩm vĩ đại này là một món quà thượng thặng với những nội dung huyền diệu mà tôi không thể nào thưởng thức trọn vẹn trong đoạn đời còn lại. Mà ngay cả một cuộc đời trinh nguyên cũng không đủ để thực hiện điều này. Những tâm hồn cao cả nhất, sùng đạo nhất của Trung Quốc và Nhật Bản đã uống nước nơi nguồn này hơn 800 năm nay, nhưng vẫn không uống cạn, đã nghiên cứu quyển sách này đến tận cùng, nhai đi nhai lại những lời nói bí ẩn trong đây, nếm được vị ngọt ngào của nó, họ chỉ biết âm thầm tôn kính mức độ thâm sâu và đáp lại những nét hóm hỉnh của nó với một nụ cười am tường mãn nguyện.''
 
==Một công án tiêu biểu: Lời bình của Triệu Châu về câu “Chí đạo không khó” (Triệu Châu chí đạo vô nan 趙州至道無難)==
:Bản dịch Việt của Chân Nguyên dựa trên bản Hán và bản dịch Hán-Đức của W. Gundert. Chữ trong ngoặc [...] là lời giải thích thêm của Gundert.
 
===Thuỳ thị===
 
Nếu so sánh thì trời đất cũng còn chật hẹp. Nhật nguyệt tinh tú cùng lúc u mờ. Dù gậy vung như mưa, tiếng hét vang rền như sấm sét đi nữa, người ta vẫn chưa đạt việc hướng thượng của tông thừa. Ngay cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai—chư vị cũng chỉ tự biết. Các vị Tổ sư từ đời này sang đời khác—họ cũng không thể trình bày toàn vẹn. Cả Đại tạng giáo lí và những bài chú giải cũng không thể nào diễn bày hết tất cả. Và cũng có nạp tăng tự cho mình có mắt sáng—họ không biết tự cứu như thế nào.
 
 
Thượng sĩ tham học lâu nơi này ta chẳng cần nói gì thêm, nhưng kẻ hậu học sơ cơ nên nghiên cứu kĩ!
 
===Bản tắc===
 
<div class="toccolours">
Triệu Châu dạy chúng tăng: Chí đạo không khó, chỉ đừng phân biệt chọn lựa. Chỉ nói đến một chút thôi thì đã: đây “phân biệt chọn lựa”, đây “rõ ràng minh bạch”. Lão tăng chẳng ở trong cõi minh bạch, còn bọn ngươi bảo hộ, tiếc giữ nó—không phải như vậy hay sao? Một vị tăng bước ra hỏi: Nếu đã không ở ngay trong cõi minh bạch thì còn bảo hộ, tiếc giữ cái gì?
Triệu Châu bảo: Hỏi việc đã xong, lễ bái rồi lui!
</div>
 
===Trước ngữ===
 
“Triệu Châu dạy chúng tăng”—Lão Hán làm gì thế?—Hãy khuất mắt với đám cát đằng!
 
 
“Triệu Châu bảo: Hỏi việc đã xong, lễ bái rồi lui!”—May mà ông ta còn chiêu cuối này!—Đúng là lão tặc!
 
===Bình xướng về bản tắc===
 
Hoà thượng Triệu Châu thường lấy [[thoại đầu]] này làm chủ đề dạy chúng, đặc biệt là câu “Chỉ đừng phân biệt chọn lựa”. Câu này xuất xứ từ bài ''Tín tâm minh'' của Tam tổ, cụ thể là:
 
<div class="toccolours">
'''Nguyên bản tiếng Hán'''
:Chỉ cần không yêu không ghét, thì tự nhiên rõ ràng minh bạch
</div>
 
Nhưng, nếu còn một chút thị, một chút phi thì đã có “đây phân biệt chọn lựa”, “đây rõ ràng minh bạch”. [Như thế, Triệu Châu muốn nói:] Nếu bọn ngươi chỉ hiểu suông [những câu kệ của Tam tổ] thôi thì đã sai lạc rồi. Kéo, đinh, keo hồ—dùng những thứ này mà có thể chắp nối, tạo được một vật gì đó bền vững hay sao? [Nghĩa là: Những câu lô-gic gượng gạo như “phân biệt chọn lựa” và “rõ ràng minh bạch” không thể nào diễn bày mối liên hệ bất khả phân biệt, bất khả phân li của những cặp đối đãi nằm ngay trong cái Nhất vị.]
 
 
Như vậy thì đây chính là một vị Đại tông sư với một bàn tay thiện nghệ. Sư chẳng luận huyền luận diệu, luận cơ luận cảnh cùng người, chỉ giúp người bằng cách chỉ họ bản phận sự. [Và sự việc này đưa sư đến một địa vị cao cả, vượt khỏi những đòn tấn công của người khác.] Chính vì vậy mà Sư có thể nói được: “Ngươi nên gắn thêm mỏ vào để chửi mắng, nên đổ nước thêm vào bãi nước bọt vừa phun!” Chưa bao giờ nghe thấy Sư bình sinh tiếp độ chúng bằng gậy, bằng tiếng quát, mà chỉ lấy ngôn ngữ bình thường làm phương tiện, ngay cả những người nổi danh cũng đứng bẽ bàng trước mặt Sư. Và Sư làm được như vậy bởi vì chẳng bao giờ để lạc vào những chi tiết vô bổ. Chính như vậy nên Sư mới có thể nắm sự vật ngay bên hông [như câu tụng đầu của bài ''Tín tâm minh''], đảo ngược nó [như “Rõ ràng minh bạch”], lưu chuyển ngược dòng [như câu “Còn bọn ngươi bảo hộ, tiếc giữ nó”] xuôi dòng [như câu “Ta cũng chẳng biết”], đạt đại tự tại. Người thời nay không hiểu, chỉ nói Triệu Châu chẳng đáp lời người, chẳng giải thích câu hỏi. Họ chẳng biết là đã té nhào chính lúc nói như thế.
 
===Kệ tụng===
 
<div class="toccolours">
'''Nguyên văn chữ Hán'''
:Phân biệt chọn lựa? Rõ ràng minh bạch? Bạn ơi, anh tự xem lấy!
</div>
 
===Trước ngữ về kệ tụng===
 
“Chí đạo không khó”—Một công án lặp lại ba lần! [lần đầu do Tam tổ, lần thứ hai do Triệu Châu và bây giờ, chính Tuyết Đậu—và cứ như thế mãi!]—Ông ta miệng ngậm đầy tuyết sương [vì vậy không nói được]—Nói năng quả quyết gì vậy?
 
 
“Phân biệt chọn lựa? Rõ ràng minh bạch? Bạn ơi, anh tự xem lấy!”—Nhưng ta mù mà! [Viên Ngộ giả bộ như kẻ nhát gan, muốn trốn tránh việc quyết định.]—Cứ tưởng việc này chỉ liên can đến người khác.—May mắn thay, ông ta [Tuyết Đậu] còn phải tự xem xét lấy.—Chẳng tương can gì đến việc của sơn tăng [Viên Ngộ]!
 
===Bình xướng về kệ tụng===
 
Tuyết Đậu biết điểm trọng yếu Triệu Châu muốn đá động đến trong khi thị chúng. Vì vậy nên Sư đề cao yếu điểm này với câu: “Chí đạo không khó.” Nếu Sư sau đó bảo “Ngôn ngữ vẫn trình bày đúng” thì lời này phải được hiểu là Sư chỉ chỉ một góc mà không lưu ý đến ba góc còn lại. Nhưng khi Tuyết Đậu nói tiếp câu tụng “Một nhiều chủng loại, Hai lại chẳng phải hai” thì—trong một ý nghĩa nào đó—Sư đã thông qua ba góc còn lại mà quay về góc thứ nhất.
 
 
Vị tăng này [– vẫn chưa hài lòng –] cũng đến Tào Sơn, hỏi: “Thế nào là rồng ngâm nga trong bộng cây khô?” Tào Sơn đáp: “Huyết mạch chưa bị cắt đứt hẳn.” [Tăng lại hỏi:] “Thế nào là một đầu lâu có tròng mắt?” Tào Sơn đáp: “Chưa chết hẳn.” [Tào Sơn rất thương người, đã trả lời câu hỏi thứ hai khi nghe câu thứ nhất, và trả lời câu hỏi thứ nhất sau khi nghe câu thứ hai. Chân lí nằm chính ngay trong đó, một chân lí mà vị tăng đang hỏi không thể thâm nhập được: “Hai lại chẳng phải hai”. Cứ thế mà hỏi thêm:] “Ai đã nghe được?” Tào Sơn đáp: “Tận đại địa mênh mông chưa có ai chẳng từng nghe”. Tăng lại bảo: “Bây giờ muốn biết: câu ›Rồng ngâm‹ ở trong chương nào?” [Tào Sơn liền đáp:] “Chẳng biết nằm trong chương cú nào. Tất cả những người nghe đều chết cả.”
 
Cũng có một bài kệ như sau:
 
<div class="toccolours">
'''Nguyên văn chữ Hán'''
:Ai đã được như thế, thử hỏi: Ông ta làm sao biết được sự khác biệt của trong sạch trong vẩn đục?
</div>
 
Có thể nói: Những gì Tuyết Đậu nêu ra đều có chân, có tay đầy đủ. Sư nhất thời gán một lời tụng vào để các ngươi nghe. Mặc dù đó là lời tụng nhưng, nếu cộng tất cả những lời còn lại thì chúng cũng “chẳng phải là hai.”
 
 
==Tham khảo==
 
'''Tài liệu chủ yếu'''