Khác biệt giữa các bản “Gấu đen Bắc Mỹ”

không có tóm lược sửa đổi
| status_ref =<ref name="iucn"/>
| image = Canadian Rockies - the bear at Lake Louise.jpg
| image_caption = Gấu [[Hồđen ở gần hồ Louise, Alberta]]
| regnum = [[Động vật|Animalia]]
| phylum = [[động vật có dây sống|Chordata]]
Tên thường gọi: Gấu sông băng
 
Phân bố: phía đông nam Alaska; bềnquần vữngthể ổn định
 
Mô tả: Phân biệt bởi lông hai bên sườn của nó có màu xám bạc với ánh màu xanh
Phân bố: bờ biển miền trung của British Columbia
 
Mô tả: Khoảng 10% dân số của phân loài này có bộ lông màu trắng hoặc màu kem do gen lặn và được gọi là gấu Kermode hoặc gấu thần. Còn lại 90% là gấu đen có màu bình thường màu
* '''''[[Ursus americanus luteolus']]''''
[[Tập tin:BlackBear2.jpg|nhỏ|phải|Gấu đen Louisiana]]
Trong quá khứ, gấu đen Mỹ chiếm phần lớn các khu vực rừng ở Bắc Mỹ. Hiện nay, chúng bị giới hạn chủ yếu tại các khu vực rừng yên tĩnh, rải rác.<ref name= wildlife>http://web.archive.org/web/20110723235737/http://wildlife1.wildlifeinformation.org/000ADOBES/Bears/Bears_IUCN_ActionPlan/bearsAP_chapter8.pdf</ref>
 
Gấu đen Mỹ hiện đang sinh sống nhiều ở [[Canada]]. Chúng bị tuyệt chủng tại đảo Hoàng tử Edward Island kể từ năm 1937. Tổng dân số lượng của gấu Canada là từ 396.000 đến 476.000,<ref name=ca>http://www.wwf.ca/newsroom/?1058</ref> dựa trên các cuộc khảo sát được thực hiện trong những năm 1990 tại bảy tỉnh của Canada, mặc dù ước tính này không bao gồm các quần thể gấu đen Mỹ ở [[New Brunswick]], [[vùng lãnh thổ Tây Bắc]], [[Nova Scotia]], và [[Saskatchewan]]. Số lượng của gấu đen tại tất cả các tỉnh ổn định trong suốt thập kỷ qua.<ref name="bear" /><ref name= wildlife />
 
Phạm vi hiện tại của gấu đen Mỹ tại [[Hoa Kỳ]] là không đổi trong suốt hầu hết vùng đông bắc (từ dưới dãy núi Appalachian gần như liên tục đến Virginia và Tây Virginia), phía bắc vùng trung tây, khu vực [[dãy núi Rocky]], bờ biển phía tây và [[Alaska]]. Tuy nhiên phân bố của chúng ngày càng bị chia nhỏ hoặc vắng mặt trong các khu vực khác. Mặc dù vậy, gấu đen Mỹ ở những khu vực dường như đã mở rộng phạm vi phân bố của chúng trong thập kỷ qua, chẳng hạn như mới thấy gần đây ở Ohio, mặc dù chúng có thể chưa đại diện cho các quần thể sinh sống ổn định. Khảo sát thực hiện từ 35 bang trong những năm 1990 cho thấy quần thể gấu đen là ổn định hoặc tăng, ngoại trừ ở [[Idaho]][[New Mexico]]. Toàn bộ số lượng gấu đen ở Hoa Kỳ được ước tính dao động từ 339.000 đến 465.000,<ref name=ca /> mặc dù không tính đến các quần thể ở Alaska, Idaho, [[Nam Dakota]], [[Texas]], và [[Wyoming]], mà số lượng quần thể chưa được biết.<ref name= wildlife />
 
Tính đến năm 1993, quần thể gấu đen Mexico được biết đã tồn tại trong bốn khu vực, mặc dù thông tin về sự phân bố của các quần thể bên ngoài những khu vực này chưa được cập nhật kể từ năm 1959. Mexico là quốc gia duy nhất mà gấu đen được xếp loại là có nguy cơ tuyệt chủng.<ref name= wildlife />
Hộp sọ của gấu đen Mỹ rất rộng, với cái mũi hẹp và quai hàm lớn. Tổng chiều dài hộp sọ trung bình của gấu đen trưởng thành tại Virginia, là 262–317&nbsp;mm.<ref name=bioone /> Chiều dài hộp sọ lớn nhất của loài này đã được thông báo là 23,5 tới 35&nbsp;cm.<ref name=HL /> Đôi mắt nhỏ màu đen hoặc nâu. Đôi tai nhỏ và tròn, ở phía sau trên đầu. Cái mõm dài và nhọn với mũi dài, màu nâu. Con cái có xu hướng có mảnh mai hơn và có khuôn mặt nhọn hơn con đực. Lưỡi và môi có thể chuyển động linh hoạt.
 
Gấu đen có 42 cái răng thích nghi với một chế độ ăn tạp. Các răng cửa có thể được sử dụng để cắt thịt nhưng thường được sử dụng để cắt cỏ và các thực vật trên sàn rừng. Răng nanh có thể được sử dụng để bắt mồi và làm bị thương đối thủ, nhưng thường được sử dụng để xé các tổ ong, kiến và chỗ cư trú của côn trùng. Các răng hàm rất rộng và bằng phẳng được sử dụng để nghiền các loại hạt và quả hay nhai thức ăn thực vật. Gấu đen ít ăn [[thịt]], do đó chúng không cần răng hàm sắc và có hình cắt kéo giống như các [[động vật ăn thịt]] điển hình như chó [[sói]] các loài [[họ mèo]]. Chúng có cơ hàm khỏe với vết cắn rất mạnh mẽ, đặc biệt là của những con đực <ref name=bear.org />.
 
Chân sau của gấu đen hơi dài hơn so với chân trước và tương đối dài hơn so với chân sau của gấu ngựa. Các bàn chân của loài này tương đối lớn, với chiều dài chân sau là 13,7-22,5&nbsp;cm, là lớn hơn so với các loài gấu kích thước trung bình khác, nhưng nhỏ hơn nhiều so với bàn chân gấu nâu trưởng thành lớn và đặc biệt là [[gấu trắng Bắc cựcCực]].<ref name=HL /> Lòng bàn chân có màu đen hoặc nâu, với lớp đệm thịt trần trụi, phủ da và có nếp nhăn sâu. Mỗi bàn chân có năm ngón với móng vuốt không thể thu vào được sử dụng để xé thức ăn, đào bới, cào và trèo cây. Móng vuốt của chúng thường là màu đen hoặc xám. Các móng vuốt ngắn (2–3&nbsp;cm) và tròn, dày ở phía đáy và thuôn nhọn. Các móng vuốt ở cả hai chân trước và sau gần như là có chiều dài như nhau, mặc dù móng vuốt trước có xu hướng cong nhọn hơn.<ref name=bear />
 
Gấu đen rất khéo léo và thông minh, có khả năng mở lọ nắp xoáy và tháo các chốt cửa. Chúng có thể đứng và đi trên hai chân sau. Chúng cũng có sức mạnh tuyệt vời. Một cú tát bằng chân trước của gấu đen cũng đủ để giết chết một con hươu lớn. Ngay cả các con gấu nhỏ cũng có thể lật ngửa các phiến đá có trọng lượng 141–147&nbsp;kg bằng một chân trước.<ref name= Gary>Brown, Gary (1993). The great bear almanac. Lyons & Burford. ISBN 978-1-55821-210-7.</ref> Chúng di chuyển trên bàn chân một cách chắc chắn nhịp nhàng và có thể chạy với tốc độ 40–50&nbsp;km/h.<ref name= Gary />
 
Gấu đen có thị lực tốt, đồng thời, thính giác và khứu giác cũng rất phát triển. Chúng có thị lực tốt hơn và thính giác mẫn cảm hơn so với con người. Gấu đen đã được chứng minh bằng thực nghiệm có khả năng học các bài tập phân biệt thị giác dựa trên màu sắc nhanh hơn so với tinh tinh và ngang bằng chó. Chúng cũng có khả năng học hỏi nhanh chóng khi phân biệt các hình dạng khác nhau, chẳng hạn như hình tam giác, hình tròn và hình vuông nhỏ.<ref>http://www.bearbiology.com/fileadmin/tpl/Downloads/URSUS/Vol_3/Bacon_Burghardt_B_Vol_3.pdf</ref> Tuy nhiên, giác quan ý nghĩa nhất của chúng là khứu giác, tốt hơn so với chó khoảng 7 lần.<ref>http://westernwildlife.org/black-bear-outreach-project/biology-behavior-3/</ref>
Gấu đen trưởng thành tại Khu bảo tồn hoang dã quốc gia Yukon Flats ở phía đông-trung tâm của Alaska có khối lượng trung bình 87,3&nbsp;kg đối với con đực và 63,4&nbsp;kg đối với con cái, trong khi trên đảo Kuiu ở phía đông nam Alaska (nơi loài cá hồi nhiều dinh dưỡng sẵn có) gấu trưởng thành có khối lượng trung bình khoảng 115&nbsp;kg.<ref>http://www.carnivoreconservation.org/files/thesis/peacock_2004_phd.pdf</ref><ref>Peacock, Elizabeth (2004). Population, Genetic and Behavioral Studies of Black Bears Ursus americanus in Southeast Alaska. PhD Thesis, University of Nevada, Reno</ref> Trong Công viên quốc gia Great Smoky Mountains, con đực trưởng thành trung bình là 112&nbsp;kg và con cái trưởng thành trung bình là 47&nbsp;kg.<ref>http://www.discoverlife.org/nh/tx/Vertebrata/Mammalia/Ursidae/Ursus/americanus/</ref> Trong Công viên quốc gia Yellowstone, một nghiên cứu quần thể thấy rằng con đực trưởng thành trung bình là 119&nbsp;kg và con con trưởng thành trung bình 67&nbsp;kg.<ref>Barnes, V.G., and O.E. Bray. 1967. Population characteristics and activities of black bears in Yellowstone National Park. Final rep., Colorado Wildl. Res. Unit, Colorado State Univ., Fort Collins; cited in Characteristics of Black Bears and Grizzly Bears in YNP. nps.gov</ref> Trong tiểu bang California, các nghiên cứu đã cho thấy khối lượng trung bình là 86&nbsp;kg đối với con đực trưởng thành và 58&nbsp;kg ở con cái trưởng thành.<ref name=bioone /> Trong tiểu bang New York, cân nặng trung bình của hai giới được báo cáo là 135&nbsp;kg và 74&nbsp;kg tương ứng.<ref>BLACK BEARS IN NEW YORK: Natural History, Range, and Interactions with People. Bureau of Wildlife – Black Bear Management Team, 2003; Second Edition: 2007</ref>
 
Mặc dù gấu đen là loài gấu nhỏ nhất ở Bắc Mỹ, con đực lớn nhất cũng vượt quá kích thước của các loài gấu khác ngoại trừ [[gấu nâu]] và gấu trắng Bắc cực.<ref name= Gary /> Con gấu đen Mỹ hoang dã lớn nhất từng được ghi nhận là một con đực ở New Brunswick, bị bắn vào tháng 10 năm 1972, nặng 409&nbsp;kg sau khi nó đã bị lột da, nghĩa là nó nặng khoảng 500&nbsp;kg khi còn sống, và có chiều dài 2,41 m. Một con gấu đen hoang dã ngoại cỡ, nặng 408&nbsp;kg, đã bị bắn vào tháng 12 năm 1921 tại Khu bảo tồn Moqui ở Arizona.<ref name= Guinness>Wood, Gerald (1983). The Guinness Book of Animal Facts & Feats. Sterling Publishing Co. ISBN 978-0-85112-235-9.</ref> Một con gấu có kích thước kỷ lục đã bị bắn ở Morris County, New Jersey vào tháng 12 năm 2011 có kích thước 376,5&nbsp;kg.<ref>Stabile, Jim (2011-12-16) "829-pound bear takes record in N.J. hunt". Daily Record</ref> Thậm chí ở Pennsylvania một con gấu đen lớn hơn (một trong sáu cá thể có cân nặng trên 363&nbsp;kg bắn trong 15 năm qua trong tiểu bang) được ghi nhận có cân nặng 399&nbsp;kg và bị bắn vào tháng 11 năm 2010 tại Pike County.<ref>http://www.poconorecord.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20101119/NEWS/11190341/-1/NEWS01</ref> Trung tâm Gấu Bắc Mỹ, nằm ở Ely, Minnesota, là quê hương của con đực và con cái nuôi nhốt lớn nhất thế giới. Ted, là tên con gấu đực, nặng 431-453,5&nbsp;kg vào mùa thu năm 2006,<ref name=bear.org /> và Honey, con gấu cái, có cân nặng 219,6&nbsp;kg vào mùa thu năm 2007 <ref name=bear.org />
 
===Bộ lông===
Phần lớn chế độ ăn động vật của gấu đen bao gồm các loài côn trùng như ong mật, ong vàng, kiến và ấu trùng của chúng.<ref name= cmsstgBEAR /> Gấu đen cũng rất thích mật ong, và sẽ gặm xuyên qua cây nếu tổ ong được đặt quá sâu vào thân cây để có thể tiếp cận với bàn chân của chúng. Khi tổ ong bị xâm phạm, gấu đen sẽ cạo tổ ong bằng bàn chân của mình và ăn chúng, bất kể bị những con ong đốt.<ref name= Guinness /> Gấu đen sống ở các vùng ven biển phía Bắc (đặc biệt là bờ biển Thái Bình Dương) sẽ bắt cá hồi trong ban đêm, vì bộ lông màu đen của chúng có thể dễ dàng bị cá hồi phát hiện vào ban ngày. Tuy nhiên, những con gấu đen có lông màu trắng của các hòn đảo miền tây Canada có một tỷ lệ thành công cao hơn 30% trong việc săn bắt cá hồi hơn so với đồng loại có bộ lông màu đen của chúng.<ref>http://news.bbc.co.uk/earth/hi/earth_news/newsid_8344000/8344367.stm</ref> Chúng cũng sẵn sàng bắt các loài cá khác bao gồm cá mút, cá hồi sông và cá da trơn khi có thể.
 
Mặc dù gấu đen không thường xuyên tham gia vào các hoạt động ăn thịt động vật lớn khác trong nhiều năm, loài này cũng thường xuyên săn [[hươu đuôi đen]] và [[hươu đuôi trắng]] vào mùa xuân khi có cơ hội.<ref>Smith, R. (1983). Mule deer reproduction and survival in the LaSal Mountains of Utah, M.S. thesis, Utah State University, Logan.</ref><ref name=nrcresearchpress>http://www.nrcresearchpress.com/doi/abs/10.1139/z88-179#.U9zlQeOSwSs</ref><ref>http://www.jstor.org/discover/10.2307/3801608?uid=3738936&uid=2&uid=4&sid=21104550097493</ref> Ngoài ra chúng cũng được ghi nhận đã săn bê con của [[hươu Bắc Mỹ]] ở Idaho <ref>Schlegal, M. (1976). "Factor affecting calf elk survival in north central Idaho". Western Association of State Game and Fish Commission 56: 342–355.</ref> và bê con của [[nai sừng tấm]] ở Alaska.<ref>http://www.jstor.org/discover/10.2307/3808038?uid=3738936&uid=2&uid=4&sid=21104550097493</ref> Gấu đen ăn thịt hươu trưởng thành là rất hiếm nhưng đã được ghi lại.<ref>http://www.jstor.org/discover/10.2307/3800894?uid=3738936&uid=2&uid=4&sid=21104550097493</ref><ref>http://www.bioone.org/doi/abs/10.2192/URSUS-D-10-00024.1</ref><ref>Austin, M. A., Obbard, M. E. and Kolenosky, G. B. (1994). "Evidence for a black bear, Ursus americanus, killing an adult moose, Alces alces". The Canadian Field Naturalist 108: 236–238.</ref> Chúng thậm chí có thể săn con mồi lên đến kích thước của con [[nai sừng tấm]] cái trưởng thành, lớn hơn đáng kể so với chúng, bằng cách phục kích.<ref name=Roosevelt>Roosevelt, Theodore (2007). Hunting the Grisly and Other Sketches. ReadHowYouWant.com. pp. 33–. ISBN 978-1-4250-7306-0.</ref> Có ít nhất một báo cáo rằng một con gấu đen đực giết chết hai con [[hươu Bắc Mỹ]] trong suốt sáu ngày bằng cách đuổi chúng vào hố tuyết sâu nơi mà sự di chuyển của chúng bị cản trở. Tại Labrador, gấu đen đặc biệt ăn thịt, sống chủ yếu nhờ vào [[tuần lộc]], thường là những con ốm yếu, con non hay sắp chết, và các loài gặm nhấm như chuột đồng. Điều này được cho là do số lượng ít ỏi của các loại thực vật ăn được trong khu vực phụ cận Bắc cực này và thiếu động vật ăn thịt địa phương lớn cạnh tranh (bao gồm các loài gấu khác).<ref name=DW />
 
Giống như loài gấu nâu, gấu đen cố gắng sử dụng việc phục kích bất ngờ của mình với con mồi và nhắm mục tiêu vào các động vậtthể ốm yếu trong đàn. Khi một con hươu bị bắt, gấu đen thường xé xác con mồi sống trong khi ăn.<ref name=nrcresearchpress /> Nếu bắt được một con hươu mẹ vào mùa xuân, gấu đen thường ăn đầu tiên bầu vú của hươu mẹ đang cho con bú, nhưng nhìn chung là thích thịt nội tạng. Gấu đen thường kéo con mồi đi che giấu, và thích ăn ở chỗ yên tĩnh. Da của con mồi lớn bị tước trở lại và quay từ bên trong ra ngoài với bộ xương thường để lại hầu như nguyên vẹn. Không giống như chó sói xám và sói đồng có, gấu đen hiếm khi phân tán phần còn lại của con mồi. Gấu đen thường lau chùi thân thể ngay tại thảm thực vật xung quanh xác chết và phân của chúng thường được tìm thấy gần đó. Gấu đen có thể cố gắng để che giấu phần xác còn lại của động vật lớn hơn, mặc dù chúng không làm như vậy nhiều như báo sư tử và gấu xám Bắc Mỹ.<ref name=ranchref>http://web.archive.org/web/20061017112052/http://texnat.tamu.edu/ranchref/predator/bears/t-bears.htm</ref> Chúng cũng sẵn sàng tiêu thụ trứng và chim non của các loài chim khác nhau và có thể dễ dàng truy cập nhiều tổ chim trên cây, thậm chí cả tổ rất lớn của [[đại bàng đầu trắng]].<ref name= Gary /> Gấu đen cũng đã được báo cáo là ăn cắp hươu nai và các động vật khác từ các thợ săn con người.
 
===Mối quan hệ với các loài ăn thịt ===
Trong nhiều khu vực phân bố, gấu đen có thể yên tâm ăn [[xác thối]] nhờ ưu thế kích thước lớn và sức mạnh đáng kể của mình, để đe dọa và, nếu cần thiết, là thống trị những kẻ săn mồi khác trong cuộc đối đầu bên xác chết. Tuy nhiên, đôi khi mà chúng gặp phải [[gấu Kodiak]] hoặc [[gấu grizzlyxám Bắc Mỹ]], hai phân loài gấu nâu lớn hơn này sẽ thống trị chúng. Gấu đen có xu hướng né tránh khỏi sự cạnh tranh từ những con gấu nâu bằng cách tích cực hoạt động hơn vào ban ngày, và sống ở khu vực có mật độ rừng cao hơn. Tương tác bạo lực dẫn đến cái chết của gấu đen đã được ghi nhận trong Công viên[[Vườn quốc gia Yellowstone]].<ref>http://www.greateryellowstonescience.org/files/pdf/ys5-gunther.pdf</ref><ref>http://www.nps.gov/yell/naturescience/upload/predation.pdf</ref>
 
Gấu đen không cạnh tranh với [[báo sư tử]] trên xác chết. Giống như loài gấu nâu, đôi khi chúng ăn cắp xác chết từ báo sư tử. Một nghiên cứu phát hiện ra rằng cả hai loài gấu đã tìm đến 24% con mồi mà báo sư tử giết chết trong các công viên quốc gia Yellowstone và Glacier, chiếm đoạt 10% xác chết.<ref>http://publications.gc.ca/collections/Collection/CW69-14-166-2002E.pdf</ref><ref>http://www.jstor.org/discover/10.2307/3873109?uid=3738936&uid=2&uid=4&sid=21104550204413</ref> Các trận đánh giữa hai loài rất hiếm, mặc dù chúng có thể là bạo lực. Báo sư tử đôi khi giết chết gấu trưởng thành, một hành vi được báo cáo là đã được chứng kiến trong thế kỷ 19.<ref>http://thelibrary.org/lochist/turnbo/V12/ST363.html</ref> Ngoài ra còn có hồ sơ ở thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 về việc gấu giết chết báo sư tử, trong khi phòng vệ hoặc trong tranh chấp lãnh thổ, và các cuộc chiến đấu đôi khi kết thúc mà cả hai chiến binh đều tử thương.<ref>http://www.freewebs.com/mountainlionsinfo/cougarvsbearsaccounts.htm</ref>
 
Tương tác giữa gấu đen với [[sói xám]] là hiếm hơn nhiều so với gấu nâu, do sự khác biệt trong sở thích của môi trường sống. Phần lớn các cuộc đối đầu của những con sói với gấu đen xảy ra trong khu vực phân bố phía bắc của loài vật này, không có tương tác được ghi lại ở [[Mexico]]. Mặc dù gấu đen là mạnh hơn trên cơ sở một chọi một, các đàn sói được báo cáo là đã nhiều lần giết chết các con gấu đen mà không ăn chúng. Không giống như gấu nâu, gấu đen thường xuyên thất bại trước những con sói trong tranh chấp con mồi đã bị giết chết.<ref>Mech, L. David and Boitani, Luigi (2001). Wolves: Behaviour, Ecology and Conservation. Chicago: University of Chicago Press. p. 448. ISBN 0-226-51696-2.</ref> Các bầy sói thường giết chết gấu đen khi loài động vật lớn đang trong chu kỳ ngủ đông của mình.<ref name=Dick />
 
Có ít nhất một báo cáo về việc một con gấu đen giết chết một con [[chồn gulô]] trong một cuộc cạnh tranh về thức ăn ở Công viên quốc gia Yellowstone.<ref>http://www.ecoearth.info/shared/reader/welcome.aspx?linkid=22714&keybold=predator%20AND%20%20coyote</ref> Gấu đen có thể đôi khi có thói quen săn mồi trên các tổ [[cá sấu mõm ngắn Mỹ]]. Đôi khi, chúng chiến thắng các con cá sấu cái, nhưng thi thoảng chúng sẽ bị thương hoặc thậm chí bị giết chết bởi một con cá sấu trưởng thành, mặc dù có vẻ như không loài nào đối đầu trực tiếp với một con trưởng thành lớn của loài khác.<ref>Crocodiles: Proceedings of the 6th Working Meeting of the Crocodile Specialist Group of the Species Survival Commission of the International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (IUCN publication. New series). IUCN (1986), ISBN 2880329051.</ref> Các trường hợp có tính giai thoại của cá sấu ăn thịt gấu đã được thông báo, mặc dù các trường hợp như thế có thể liên quan đến các cuộc tấn công trên gấu con.<ref>http://www.keywestaquarium.com/alligator</ref>
Việc sát hại động vật nuôi của gấu đen chủ yếu xảy ra vào mùa xuân. Mặc dù gấu đen có khả năng (và đôi khi đã thực hiện) việc săn bắt bò và ngựa trưởng thành, chúng có vẻ thích các con nhỏ hơn, những con mồi dễ dàng bị choáng ngợp hơn như cừu, dê, bê con và lợn. Chúng thường giết mồi bằng cách cắn cổ và vai, mặc dù chúng có thể bẻ gãy cổ hoặc lưng của con mồi với những cú tát từ bàn chân. Bằng chứng về một cuộc tấn công của gấu bao gồm dấu móng vuốt và thường được tìm thấy trên cổ, lưng, vai của các loài động vật lớn hơn. Giết quá số lượng cừu và dê là phổ biến. Gấu đen đã được biết đến là gây ra cảm giác lo sợ cho đàn gia súc trên vách đá, gây thương tích và tử vong cho nhiều loài động vật; mặc dù điều này là có cố ý hay không thì không được biết.<ref name=ranchref />
 
Thỉnh thoảng, các con vật nuôi, đặc biệt là [[chó]], quấy rối gấu đen, và bị nó giết.<ref>http://www.wjhg.com/home/headlines/Black-Bear-Attacks-Dog-163784946.html</ref> Việc sử dụng chó để ngăn cản gấu trong các cuộc tấn công là không được khuyến cáo. Mặc dù những con chó lớn, hung dữ đôi khi có thể làm một con gấu bỏ chạy, nhưng nếu bị ép vào đường cùng, những con gấu giận dữ thường xuyên tấn công lại chó. Khi con gấu đuổi theo chó nuôi có khả năng đe dọa cho mạng sống của cả người và chó.<ref>Frequently Asked Questions Regarding Bears – Denali National Park & Preserve. Nps.gov. 21.12.2012.</ref><ref>http://www.uaex.edu/publications/pdf/FSA-9087.pdf</ref>
[[File:01 Schwarzbär.jpg|thumb|left|Một con gấu đen ở vườn quốc gia núi Riding, [[Manitoba]].]]
 
===Săn bắn và khai thác===