Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trịnh Tùng”

Cập nhật địa danh
n (Theo Toàn thư, năm Canh Tuất là năm 1550)
(Cập nhật địa danh)
Từ khi triều Lê trung hưng đã gần 50 năm chưa tổ chức một khoa thi Hội nào, vì bận việc chiến tranh. Đến năm [[1580]], triều đình mới cho mở khoa, lấy bọn [[Nguyễn Văn Giai]] (người phủ Lưu Trường, huyện Thiên Lộc) và [[Phùng Khắc Khoan]] sáu người được đỗ tiến sĩ xuất thân và tiến sĩ đồng xuất thân. Từ bấy giờ phục lại việc 3 năm một khoa thi Hội, còn việc thi Đình thì vẫn trì hoãn chưa tiến hành được{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=664}}.
 
Năm [[1583]], Trịnh Tùng xem thế quân mình đã mạnh bèn kéo ra Sơn Nam, đánh các huyện Yên Mô<ref group="Ghi chú">Tên huyện, nay thuộc tỉnh [[Ninh Bình]]</ref>, Yên Khang gặt lúa rồi lại kéo về.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=625}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=665}} Sang mùa xuân năm [[1584]], Trịnh Tùng kéo quân ra Trường Yên, rồi lại tiến quân đi tuần ở Thiên Quan. Vì [[Ngô Cảnh Hựu]] rút quân về trước, nên Trịnh Tùng liền đó rút quân quay về, dâng biểu xin giáng chức Cảnh Hựu xuống hai tư. Mùa xuân năm [[1585]], Trịnh Tùng chính mình đốc suất đại quân, kéo ra Thiên Quan, đánh phá các huyện Mỹ Lương, Thạch Thất và An Sơn, lược định mặt Tây đạo. Đóng quân ở Sài Sơn<ref group="Ghi chú">Xã [[Thụy Khuê]], huyện [[An Sơn]], [[Sơn Tây]], nay là xã [[Sài Sơn]], huyện [[Quốc Oai]], Hà Nội.</ref>, để tì tướng là quận Chiêu đóng đồn ở Hoàng Xá.<ref group="Ghi chú">Xã [[Hoàng Xá]], huyện [[An Sơn]], [[Sơn Tây]], nay là [[thị trấn Quốc Oai]], Hà Nội.</ref> Quân Mạc truy kích quận Chiêu bị chết trận. Tùng thấy không lợi rút quân về.
 
Tháng 9 nǎm [[1584]], trưởng huynh của Trịnh Tùng là [[Trịnh Cối]] chết trên đất Bắc Triều. Họ Mạc sai người đến điếu tế; lại sai quân đưa linh cữu cùng người nhà, mẹ và vợ con về xứ Thanh. Trịnh Tùng cũng sai người đón tiếp linh cữu về quàn ở bên hữu núi Quân Yên, huyện Yên Định, đặt lễ cúng tế, dâng biểu tâu vua tha tội cho Cối, tặng thái phó Trung quốc công, sai con của mình là [[Trịnh Xuân]] mặc đồ tang cho bác{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=625}}{{sfn|Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng|2005|p=95}}.
Mùa đông năm đó, Trịnh Tùng kéo quân đánh phá Trường Yên và Thiên Quan tiến ra vùng tây nam, đến huyện Mỹ Lương<ref group="Ghi chú">Đất huyện Mỹ Lương cũ, nay là huyện Chương Mỹ, thành phố [[Hà Nội]] và huyện Lương Sơn, tỉnh [[Hòa Bình]].</ref>. [[Nhà Mạc]] sai [[Mạc Ngọc Liễn]] dẫn quân từ huyện An Sơn; [[Nguyễn Quyện]] từ huyện Chương Đức vượt sông Do Lễ<ref group="Ghi chú">Xã [[Do Lễ]], huyện [[Chương Đức]]</ref> đến kháng cự, bố trí đặt mai phục ở miền sơn cước, và tìm cách cắt đường chuyển lương của quân Trịnh. Trịnh Tùng qua do thám biết được mưu đồ của kẻ thù, bèn sai đại tướng [[Hoàng Đình Ái]] cấp tốc đang đêm tiến lén về để giữ Thanh Hoa, [[Hà Thọ Lộc]] và [[Ngô Cảnh Hựu]] ở lại canh giữ binh lương ở phía sau. Lại cử [[Nguyễn Hữu Liêu]] và [[Trịnh Đỗ]], từ đường phía tả, xuất quân đi cầm cự với [[Mạc Ngọc Liễn]] để phân tán thế lực của địch. Còn bản thân Trịnh Tùng đốc quân do đường bên phải kéo ra, tiến đánh Nguyễn Quyện. Quân của Quyện thua chạy, phục binh cũng tan vỡ nốt. Quan quân chém hơn 100 quân địch, truy kích đến nửa ngày mới thôi{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}. Hôm sau, quân Nam triều tấn công các huyện An Sơn, Thạch Thất; tuy nhiên khi đó đã là cuối năm nên Trịnh Tùng rút quân về.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=628}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}. Kể từ đó [[Nguyễn Quyện]] khiếp sợ trước Trịnh Tùng, mỗi lần gặp quân của ông đều trốn tránh không dám xông lên nữa. Nhân đà thắng lợi, qua ngày hôm sau Trịnh Tùng đem đại quân tiến đóng Hoàng Sơn, và các huyện An Sơn, Thạch Thất, đều phá được cả. Tuy nhiên bấy giờ đã vào cuối năm nên Trịnh Tùng quyết định cho quân lui về Thanh Hóa. Nhà Mạc cũng cho đắp thêm lũy đất ngoài thành Đại La để ngăn chặn quân Lê - Trịnh{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=668}}.
 
Cuối năm [[1588]], Trịnh Tùng lại rầm rộ kéo quân ngoài cửa ải Trường Cát, đánh phá Trường Yên và Thiên Quan, vượt sông Chính Đại,<ref group="Ghi chú">Trang [[Chính Đại]], huyện [[Tống Sơn]] tỉnh [[Thanh Hóa]], nay là xã [[Nga Điền]], huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.</ref>. Đến trại Dương Vũ<ref group="Ghi chú">Thuộc xã [[Dương Vũ]], huyện [[Yên Khánh]], tỉnh [[Ninh Bình]]</ref>, ông đóng quân ở lại đến đến hơn một tuần. Quân Mạc cố thủ không ra đánh. Trịnh Tùng giả đò dùng kế đốt doanh trại rút quân về để nhử định, nhưng kỳ thực đã đặt kỳ binh và voi ngựa mai phục ở phía sau. Khi quân Mạc từ trong lũy kéo ra truy kích thì gặp phải phục binh đánh úp, tổn thất vài trăm nhân mạng. Trịnh Tùng lại chuyển quân quay về núi Tam Điệp<ref group="Ghi chú">Chỗ chia cắt hai tỉnh [[Ninh Bình]] và [[Thanh Hóa]]</ref>, hạ lệnh cho quân bố trí phòng thủ ở cửa biển Linh Trường<ref group="Ghi chú">Nay là cửa biển Y Bích, thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hoa.</ref> để chặn thuyền giặc kéo tới.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=628-629}}.
 
Mùa đông năm [[1589]], Trịnh Tùng lại dẫn quân tấn công huyện Trường Yên. [[Nhà Mạc]] sai [[Mạc Đôn Nhượng]] đóng quân ở Yên Mô<ref group="Ghi chú">Huyện [[Yên Mô]], tỉnh [[Ninh Bình]]</ref> tiếp chiến. Trịnh Tùng bàn mưu với các tướng
== Chiếm Thăng Long lần thứ nhất ==
[[Tập tin:Map of Southern and Northern Dynasties of Vietnam.png|220px|nhỏ|Tình hình Đại Việt trước khi Trịnh Tùng bắc phạt. Họ Mạc Bắc triều vẫn nắm giữ vùng núi và vùng châu thổ sông Hồng, trong khi Nam triều nắm giữ các vùng đất từ Thanh Hoá trở vào]]
Ngày [[3 tháng 12]] năm [[1591]], Trịnh Tùng bàn việc ra quân bắc phạt với quy mô lớn; sai Diễn quận công [[Trịnh Văn Hải]] và Thái quận công [[Nguyễn Thất Lý]], quản lãnh quân thủy, quân bộ, trấn thủ những nơi hiểm yếu ở các cửa biển; Quận Thọ [[Lê Hòa]] kiêm coi võ sĩ trong ngoài thuộc bốn vệ theo hầu vua Lê Thế Tông và hộ vệ ngự doanh. Ông điều động 5 vạn quân, phân làm năm lộ sai [[Nguyễn Hữu Liêu]], [[Hoàng Đình Ái]], [[Hà Thọ Lộc]], [[Ngô Cảnh Hựu]] chia nhau quản lãnh. Bản thân Trịnh Tùng dẫn 2 vạn binh trung quân kéo ra Tây Đô, theo đường Quảng Bình qua huyện Thiên Quan, hơn mười hôm thì đến núi Mã Yên, rồi tiến ra huyện Ma Nghĩa<ref group="Ghi chú">Nay thuộc huyện [[TùngBa Thiện]]</ref>. Các lộ An Sơn, Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong đều nhanh chóng thất thủ; Trịnh Tùng đóng quân ở Tốt Lâm. Vua [[Mạc Mậu Hợp]] kinh hoàng, vội điều hết binh mã 4 vệ 5 phủ được khoảng 10 vạn, đích thân làm tướng tiến đến xã Phấn Thượng, kháng cự với vương sư. Trịnh Tùng sai [[Hoàng Đình Ái]] ra đánh, giết được tướng Mạc là quận Khuông và quận Tân. Quan quân thừa thế đánh mạnh; Trịnh Tùng cũng đích thân ra đốc chiến. Hai bên đánh nhau ở bên sông Hát Gian. Quân họ Trịnh đánh rất hăng. Quân nhà Mạc chống không nổi, thua chạy qua sông, đảng lốt tranh thuyền, lăn xuống sông chết quá nửa. Mạc Hậu Hợp bỏ chạy. Tàn quân Mạc tranh nhau xuống thuyền, ngã xuống nước mà chết đến quá nửa. Quân Lê - Trịnh đuổi quân Mạc đến Giang Cao, chém hơn 1 vạn thủ cấp.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=632}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=672}}
 
Trịnh Tùng đóng trại ở Hoàng Xá, sai quân vượt sông Cù,<ref group="Ghi chú">Khúc sông Hát chảy qua xã [[Cù Sơn]]</ref> phá được nhiều thành lũy. Ông bàn với các tướng rằng{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=671}}
:''Văn Khuê đầu hàng, thế là trời giúp cho ta được chóng thành công. Đất đai bản triều có thể hẹn ngày khôi phục được.''
 
Bèn sai [[Hoàng Đình Ái]] làm tiên phong, đến làng Bái và làng Đình hội quân với Bùi Văn Khuê. Đình Ái sai Văn Khuê tiến quân đóng giữ bến đò Đàm Giang<ref group="Ghi chú">Xưa là bến đò Đàm Gia, ở xã [[Điềm Xá]], huyện [[Gia Viễn]], tỉnh [[Ninh Bình]]</ref>. Quân Mạc bèn lui giữ sông Thiên Phái<ref group="Ghi chú">Khoảng giữa hai huyện Ý Yến và [[Phong Doanh]] thuộc tỉnh [[Nam Định]], chạy ra cửa Liêu</ref>. Trịnh Tùng quản đốc đại quân kéo ra Trường Yên, tiếp đãi [[Bùi Văn Khuê]] phong tước quận công và sai cầm quân đánh họ Mạc. Quân Lê-Trịnh đến núi Kẽm Trống<ref group="Ghi chú">Xã [[Nham Kênh]], nay là xã Thanh Hải, huyện [[Thanh Liêm]]</ref> đóng trại, Tùng sai Văn Khuê lén dời binh thuyền ra cửa sông, rồi trên và dưới cùng đánh kẹp lại: quân Mạc tan vỡ, tướng [[Trần Bách Niên]] đầu hàng.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=634}}
 
Tháng 11 ÂL, mùa đông, Trịnh Tùng tiến đóng Bình Lục, rồi kéo đến bãi Tinh Thần thuộc Thanh Oai, đóng dinh trại, ra chiếu dụ cho dân chúng miền tây nam đâu đấy cứ yên nghiệp làm ăn{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=674}}; sau đó tiến ra cửa sông Hát; đánh bại tướng [[Mạc Ngọc Liễn]], Ngọc Liễn phải chạy qua Tam Đảo. Quan quân thừa thắng, ruỗi dài đến cửa Nam thành Thăng Long, đóng quân ở bến Cỏ, bắt được chiến thuyền của Mạc đến hàng nghìn chiếc, [[Mạc Mậu Hợp]] hốt hoảng chạy sang Kim Thành (Hải Dương). Trịnh Tùng phủ dụ quân dân, cấm quân sĩ xâm phạm dân chúng; các huyện Thuận An, Tam Đái, Thượng Hồng đều hàng phục cả. Lại sai quân đánh sang Kim Thành; [[Mạc Mậu Hợp]] bỏ trốn; quân Lê bắt được thái hậu mẹ của vua Mạc đem về và thu được nhiều của cải, châu báu. Trên đường áp giải về Thanh Hoa, Thái hậu nhảy xuống sông tự vẫn. [[Mạc Mậu Hợp]] bèn lập con là [[Mạc Toàn]] làm vua, bản thân tự làm tướng, quản đốc binh mã chống giữ.{{sfn|Nhiều tác giả|1993|p=636}}