Khác biệt giữa các bản “Minh Tuyên Tông”

Tuyên Tông cũng là người hay tham khảo ý kiến các đại thần như [[Dương Sĩ Kì]], [[Dương Vinh]]. Ông cũng là người chủ trương rút quân khỏi [[Bắc thuộc lần 4|Giao Chỉ]], do khi đó quân Minh liên tục bị [[Lê Thái Tổ|Lê Lợi]] và [[khởi nghĩa Lam Sơn|nghĩa quân Lam Sơn]] đánh bại, với việc sửa đổi chính sách thảo phạt của thời kỳ Vĩnh Lạc thành chính sách hưu binh dưỡng dân, nhưng một số các đại thần của ông không đồng ý. Năm 1426, sau nhiều thất bại lớn ở Giao Chỉ mà đỉnh điểm là [[trận Tốt Động – Chúc Động]], tổng binh Thành Sơn hầu [[Vương Thông]] gửi thư xin Tuyên Tông cấp viện binh. Tuyên Tông sai An Viễn hầu [[Liễu Thăng]], Kiềm quốc công [[Mộc Thạnh]] đem 2 đạo viện quân sang cứu trợ. Chúa Lam Sơn là [[Lê Lợi]] sai [[Lê Sát]], [[Lưu Nhân Chú]] đánh bại và giết Liễu Thăng trong [[trận Chi Lăng – Xương Giang]], [[Trịnh Khả]] và [[Phạm Văn Xảo]] phá tan quân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Nhiều tướng cấp cao của Minh như [[Lý Khánh]], [[Lương Minh]], [[Thôi Tụ]] cũng chết cùng với khoảng 70.000 quân. Không đợi lệnh Minh Tuyên Tông, Vương Thông rút quân khỏi quận [[Giao Chỉ]] và Tuyên Tông buộc phải công nhận quyền độc lập của [[người Việt]].
 
Năm 1428, HoàngTuyên đế XuandeTông đã ban cho vua [[Shō Hashi]] của [[Vương quốc Trung Sơn]] tên gia đình là ''Shang'' (尚, Shō trong [[tiếng Nhật]]), ban cho ông tước hiệu là ''Liuqiu Wang'' (王, Jap: Ryūkyū-, Vua của [[Vương quốc Lưu Cầu|Ryūkyū]]), và tặng ông một viên thuốc sơn mài màu đỏ với ''Chung Shan'' (山, Chūzan trong tiếng Nhật) được ghi bằng vàng, sau đó được đặt trên cổng Chūzonmon gần lâu đài [[Shurijo]].
 
Tại phía Bắc, Tuyên Tông đã đi tuần thú biên giới với 3.000 kị binh vào năm [[1428]] và đã tiễu phạt các nhóm cướp cướp bóc từ Bộ lạc [[Uriyangkhad]] của [[Mông Cổ]]. Người Hán cho phép những người Mông Cổ miền đông theo [[Arughtai]] đánh nhau với các bộ lạc [[Oirat]] của [[Toghon]] ở phía tây. Bắc Kinh hàng năm nhận ngựa từ Arughtai; nhưng ông ta đã bị người Oirat đánh bại vào năm [[1431]] và bị giết năm [[1434]] khi Toghon chiếm được miền Đông Mông Cổ. Triều đình nhà Minh sau đó duy trì quan hệ hữu hảo với người Oirat. Quan hệ ngoại giao với [[Nhật Bản]] cũng được cải thiện vào năm [[1432]]. Các quan hệ với [[Triều Tiên]] cũng tốt, ngoại trừ việc họ không đồng ý với việc phải gửi các thiếu nữ đồng trinh để sung vào hậu cung nhà Minh. Tuyên Đức Hoàng đế cũng cho phép [[Trịnh Hòa]] thực hiện thêm một chuyến đi biển nữa; nhưng những chuyến viễn thám hàng hải đó đã kết thúc vào năm [[1434]].
 
Hội đồng cơ mật gồm các [[Thái giám]] đã tăng cường củng cố quyền lực tập trung hóa bằng cách kiểm soát chính sách bí mật, và ảnh hưởng của họ còn tiếp tục gia tăng.