Khác biệt giữa các bản “Bành Hồ”

== Lịch sử ==
Việc tìm thấy đồ gốm văn thừng màu đỏ có chất lượng tốt ở Bành Hồ đã chỉ ra rằng người dân từ Tây Nam Đài Loan đã đến quần đảo này từ khoảng 5.000 năm trước, song họ không định cư lâu dài.<ref name="Reclamation Hall">{{chú thích web |url=http://phkt.phhcc.gov.tw/english/home.asp |title=Penghu Reclamation Hall }}</ref> [[Người Hán]] từ nam bộ [[Phúc Kiến]] bắt đầu thành lập các làng chài trên quần đảo từ thế kỷ 9 và 10,<ref name="Reclamation Hall"/> triều đình [[Nam Tống]] và [[nhà Nguyên|Nguyên]] cho đóng quân một cách không liên tục tại quần đảo từ khoảng năm 1170.{{sfnp|Wills|2006|p=86}} Tư liệu văn hiến có đề cập đến Bành Hồ sớm nhất của Trung Quốc xuất hiện vào thời Nam Tống, trong "Công quý tập" (攻媿集)- quyển 88 của [[Lâu Thược]] (樓鑰) có viết rằng: tháng 4 năm Càn Đạo thứ 7 (1171), khởi đầu từ [[Tuyền Châu]], đến quận... quận thực [[Lâm Hải]], giữa có [[bãi cạn|bãi cát]] vài vạn [[mẫu (đơn vị đo lường)|mẫu]], hiệu Bình Hồ, trong văn bản cũng mô tả [[Uông Đại Du]] (汪大猷) bảo hộ người Hán tại Bình Hồ chống lại sự cướp bóc của người Bì Xá Da ([[thổ dân Đài Loan]]), cho xây nhà 200 gian, khiển tướng trú thủ.<ref>[[臧振華]],1989,〈地下出土的澎湖古史〉,《澎湖開拓史:西台古堡建堡暨媽宮城建城一百週年學術研討會實錄》,頁63-102,澎湖:澎湖縣立文化中心。</ref> Trong [[tiếng Mân Nam]], Bình Hồ và Bành Hồ phát âm gần như nhau, giới học giả phổ biến đồng thuận rằng Bình Hồ là Bành Hồ. Đến thời Nguyên, với việc di dân ngày càng tăng lên, triều đình đã cho thiết lập [[tuần kiểm ti]] (巡檢司) tại Bành Hồ. Quần đảo cũng được mô tả trong một số chi tiết của sách [[Đảo di chí lược]] (島夷誌略) năm 1349 do thương nhân [[Uông Đại Uyên]] (汪大渊) viết.
[[Tập tin:MAO KUN MAP-17.jpg|nhỏ|trái|Trong [[Trịnh Hòa hàng hải đồ]] xuất hiện "Bình Hồ tựdữ" (平湖屿)]]
[[Tập tin:Bombardment of Chinese forts, Pescadores.jpg|nhỏ|trái|Chiếm hạm Pháp oanh tạc các vị trí của quân Thanh quanh Mã Công, 29 tháng 3 năm 1885]]
TrongVào [[thế kỷ 15]], [[nhà Minh]] đã ra hạ lệnh chobuộc người Hándân phải tản cưrời khỏi quầnBành đảoHồ, đây là một phần trongtheo sách lược [[hải cấm]] của họ. Trong những nămĐời [[Minh Thành Tổ]] và [[Minh Tuyên Tông]], tạitriều vị,đình phái [[Trịnh Hòa]] đã tiến hành cuộc thám hiểm tây dương, và trong sách ''[[Trịnh Hòa hàng hải đồ]]'' có xuất hiện bản đồ ghi nhóm "Bình Hồ tựdữ" (平湖嶼), tức là quần đảo Bành Hồ. NhữngLệnh hạnhải chếcấm của nhà Minh đã bị bãi bỏ vào cuối thế kỷ 16, cácnên làngtừ đó dân chài đượclại táitụ lậptập trênsinh quầnsống đảo, Bành đếnHồ. khiKhi người Bồ Đào Nha đến, họ đãthấy đặtngư têndân cho quầntrên đảo nên theo đó mà đặt tên là "Pescador" (ngư ông).{{sfnp|Wills|2006|p=86}} Ngày 1 tháng 7 năm 1622, người Hà Lan đem 12 thuyền với 1024 lính xâm nhập cảng Ma Cung, lúc đó quân Minh đồn trú ở Bành Hồ đã rút đi, hàng nghìn cư dân Bành Hồ tiến hành kháng cự song không thành công. Sau khi chiếm cứ Bành Hồ, người Hà Lan tiến hành phòng bị lâu dài, bắt dân khuôn đá xây thành, bảo vệ các tuyến đường biển. Năm 1624, tuần phủ Phúc Kiến tấu lên triều đình và được chuẩn thuận tấn công người Hà Lan ở Bành Hồ, kết quả giành được thắng lợi, đuổi được người Hà Lan khỏi quần đảo, sau lại cho ba nghìn binh sĩ xây pháo đài phòng thủ.<ref name="ls">{{chú thích web|title=歷史沿革|url=http://www.penghu.gov.tw/ch/home.jsp?serno=201111070014&mserno=201111070001&contlink=content/history.jsp&level2=Y|publisher=澎湖縣政府|accessdate=2013-02-24}}</ref>
 
Ngày 1 tháng 7 năm 1622, 12 chiến thuyền [[Hà Lan]] với 1024 lính kéo vào đánh chiếm Mã Công. Bành Hồ không có lính đồn trú nên khu vực coi như bị bỏ ngỏ. Dân Bành Hồ chống lại nhưng bị thua. Người Hà cho xây dựng những công trình phòng thủ đê dùng Bành Hồ kiểm soát tàu thuyền qua lại khu vực. Mãi đến năm 1624, tuần phủ tỉnh [[Phúc Kiến]] mới tâu lên triều đình đem binh mã đánh đuổi được quân Hà Lan ở Bành Hồ rồi đóng 3.000 binh trấn giữ.<ref name="ls">{{chú thích web|title=歷史沿革|url=http://www.penghu.gov.tw/ch/home.jsp?serno=201111070014&mserno=201111070001&contlink=content/history.jsp&level2=Y|publisher=澎湖縣政府|accessdate=2013-02-24}}</ref>
 
Năm 1661, [[Trịnh Thành Công]] đã xuất binh từ [[Kim Môn]], trước sau chiếm lĩnh Bành Hồ và khu vực do Hà Lan thống trị trên đảo Đài Loan, sau đó thiết lập An Phủ ti tại Bành Hồ. Năm 1683, thủy sư đề đốc [[nhà Thanh]] là [[Thi Lang]] tại [[hải chiến Bành Hồ]] đã đại phá hạm đội [[vương quốc Đông Ninh|họ Trịnh]], đánh chiếm Bành Hồ, tướng họ Trịnh là [[Lưu Quốc Hiên]] (劉國軒) phải rút chạy về Đài Loan, chính quyền họ Trịnh sau đó đầu hàng quân Thanh. Sau đó, triều Thanh đặt Bành Hồ dưới quyền cai quản của [[huyện Đài Loan (1684-1887)|huyện Đài Loan]] ở nam bộ Đài Loan hiện nay. Năm 1767, [[thông phán]] [[Hồ Kiến Vĩ]] (胡建偉) hoàn thành việc biên soạn "Bành Hồ kỉ lược" (澎湖紀略), trở thành cuốn sách ghi chép hoàn chỉnh đầu tiên về Bành Hồ. Năm 1778, một tháp [[hải đăng]] được xây trên [[Tây Tự]], hoàn thành vào năm sau, khởi đầu cho việc xây các hải đăng ở khu vực Đài Loan.