Khác biệt giữa các bản “România”

trực tiếp quân sự và kiểm soát kinh tế của Liên Xô cho đến cuối những năm 1950. Trong thời gian này, tài nguyên thiên nhiên rộng lớn của România đã bị các công ty Liên Xô-România hợp tác (SovRoms), liên tục các mục đích khai thác đơn phương<ref>{{cite web|first=Carmen |last=Rîjnoveanu |title=Romania's Policy of Autonomy in the Context of the Sino-Soviet Conflict |year=2003 |page=1 |publisher=Czech Republic Military History Institute, Militärgeschichtliches Forscheungamt |url=http://www.servicehistorique.sga.defense.gouv.fr/07autredossiers/groupetravailhistoiremilitaire/pdfs/2003-gthm.pdf |archiveurl=https://web.archive.org/web/20080624195137/http://www.servicehistorique.sga.defense.gouv.fr/07autredossiers/groupetravailhistoiremilitaire/pdfs/2003-gthm.pdf |archivedate=24 June 2008 |format=PDF |accessdate=31 August 2008 |deadurl=yes |df= }}</ref><ref>{{Cite book|last=Roper|first=Stephen D.|title=Romania: The Unfinished Revolution |place=London |publisher=Routledge|year=2000|isbn=90-5823-027-9|page=18}}</ref><ref>{{Cite book|last=Cioroianu|first=Adrian|author-link=Adrian Cioroianu |title=On the Shoulders of Marx. An Incursion into the History of Romanian Communism|language=Romanian|publisher=Editura Curtea Veche|year =2005|location=Bucharest|pages=68–73|isbn=973-669-175-6}}</ref>.
 
Năm 1948, nhà nước bắt đầu quốc hữu hóa các công ty tư nhân và tập hợp nông nghiệp<ref>{{Cite book|first=Stan|last=Stoica|title=Dicționar de Istorie a României|publisher=Editura Merona|location=Bucharest|year=2007 |pages= 77–78; 233–34|language=Romanian|isbn=973-7839-21-8}}</ref>. Cho đến đầu những năm 1960, chính phủ đã cắt giảm nghiêm trọng các quyền tự do chính trị và ngăn chặn bất kỳ bất đồng chính kiến ​​nào với sự giúp đỡ của Securitate (cảnh sát mật România). Trong thời gian này, chế độ đã phát động một số chiến dịch thanh trừng, trong đó nhiều "kẻ thù của nhà nước" và "các yếu tố ký sinh trùng" được nhắm vàovới các hình thức trừng phạt khác nhau, như trục xuất, lưu vong nội bộ và bị đày vào các trại cưỡng bức lao động và trại giam, cũng như bị xử tử<ref>{{Cite book|first=Cicerone|last=Ionițoiu|title=Victimele terorii comuniste. Arestați, torturați, întemnițați, uciși. Dicționar|publisher=Editura Mașina de scris |location=Bucharest |year=2000 |isbn= 973-99994-2-5|language=Romanian}}{{Page needed|date=September 2010}}</ref>. Tuy nhiên, kháng chiến chống Cộng sản là một trong những phong trào lâu dài nhất ở [[Khối Đông Âu]]<ref>Consiliul National pentru Studierea Ahivelor Securității, ''Bande, bandiți si eroi; Grupurile de rezistență și Securitatea (1948–1968)'', Editura Enciclopedica, București, 2003</ref>. Một Ủy ban thống kê vào năm 2006 ước tính số nạn nhân trực tiếp của sự đàn áp cộng sản khoảng hai triệu người<ref name=autogenerated3>{{cite report|title=Raportul Comisiei Prezidențiale pentru Analiza Dictaturii Comuniste din România|publisher=Comisia Prezidențială pentru Analiza Dictaturii Comuniste din România|date=15 December 2006|pages=215–217}}</ref>.
 
Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958, România - dưới sự lãnh đạo của [[Nicolae Ceauşescu]] - bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên Xô như việc chỉ trích [[Khối Warszawa]] can thiệp quân sự vào [[Tiệp Khắc]]<ref>{{cite AV media|language=rumænsk|url=http://www.britishpathe.com/video/political-tension/query/nicolae|title=Political Tension 1968|publisher=British Pathé|date=21. august 1968|location=Bucharest}}</ref>, tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với [[Israel]] sau [[Cuộc chiến 6 ngày]] năm 1967, thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với [[Đức|Cộng hòa Liên bang Đức]]<ref>{{cite web|url=http://countrystudies.us/romania/75.htm |publisher=Country Studies.us|title=Romania: Soviet Union and Eastern Europe|accessdate=31. august 2008}}</ref>. Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia [[Ả Rập]] cho phép România đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại [[Israel]]-[[Ai Cập]] và [[Israel]]-[[Tổ chức Giải phóng Palestine|PLO]]<ref>{{cite web |url=http://countrystudies.us/romania/80.htm |publisher=Country Studies.us| title=Middle East policies in Communist Romania|accessdate=31. august 2008}}</ref>. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của România gia tăng không ngừng, từ năm 1977-1981, nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD<ref>{{cite web |last=Deletant |first=Dennis |title=New Evidence on Romania and the Warsaw Pact, 1955–1989 |publisher=Cold War International History Project e-Dossier Series |url=http://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/ACF368.pdf |format=PDF}}</ref>, ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và [[Ngân hàng Thế giới|Ngân hàng thế giới]] tăng lên, mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu. Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của România bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ România, trong khi mở rộng quyền lực của công an và [[tệ sùng bái cá nhân]]. Việc đó đã làm giảm uy tín của Nicolae Ceauşescu và Chính phủ của ông bị lật đổ bởi một [[cách mạng România|cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989]]. Ông và vợ bị tử hình sau một phiên xử chiếu lệ chỉ diễn ra hai giờ và không có luật sư bào chữa<ref>[http://books.google.com/books?id=eeCT2svkPIYC&pg=RA1-PA340&dq=kangaroo+court+romania Jeri Laber The Courage of Strangers]</ref> Tháng 12 năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở România do Nicolae Ceausescu đứng đầu bị sụp đổ, România chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng.