Khác biệt giữa các bản “Lê Hy Tông”

Lê Hy Tông lên ngôi từ tháng 6 năm [[1675]]. Lúc này [[Trịnh-Nguyễn phân tranh|chiến tranh với họ Nguyễn]] ở miền nam đã chấm dứt, cả hai miền lo củng cố nội trị.
 
Công việc chính sự triều đình đều do các [[chúa Trịnh]] đảm nhận. Chúa [[Trịnh Tạc]] và người kế nghiệp sau đó là [[Trịnh Căn]] tập trung xây dựng [[Bắc Hà]], dùng nhiều tướng văn võ có năng lực nên tình hình [[Đàng Ngoài]] khá ổn định, đời sống xã hội được chấn hưng sau nhiều năm chiến tranh. Thời kỳ Lê Hy Tông làm vua được đánh giá là thịnh trị nhất thời [[Nhà Trungtrung Hưnghưng|Lê Trungtrung hưng]].<ref>Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, sách đã dẫn, tr. 206.</ref>
 
Bộ [[Đại Việt Sử ký Toàn thư|''Đại Việt sử ký toàn thư'']] -, công trình sử học của sử gia nhiều đời [[nhà Hậu Lê]] -, được khắc mộc bản ban hành năm Chính Hòa thứ 18 ([[1697]]).
 
Sau 30 năm làm vua, tháng 3 năm [[1705]]<ref>Âm lịch.</ref>, Lê Hy Tông nhường ngôi cho Thái tử [[Lê Dụ Tông|Lê Duy Đường]] (tức [[Lê Dụ Tông]]), rồi lên làm [[Thái thượng hoàng]].
 
Ông [[chết|qua đời]] tháng 4 năm [[1716]], hưởng thọ 54 tuổi, được an táng tại Phú Lăng, xã Phú Lâm, huyện Đông Sơn, [[Thanh Hóa]].