Khác biệt giữa các bản “M-113”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
 
== Hỏa lực ==
Vũ khí tiêu chuẩn của M-113 là một khẩu súng máy hạng nặng 12.50cal7mm M2HB gắn ở nắp vòm của xa trưởng. Khẩu M2HB nạp đạn từ hộp đạn 100 viên và có độ nâng hạ từ +53 độ đến -21 độ và có thể xoay 360 độ. Cơ số đạn trung bình là 2.000 viên. Do được thiết kế "mở", khẩu M2HB này có thể bị thay bởi súng phóng lựu tự động 40mm Mk19 hay các loại vũ khí tương tự khác như DShK, NSV, v.v... Hai bên sườn xe cũng có thể được lắp 2 súng máy 7,62mm. Binh sĩ trên xe M-113 cũng có thể dùng các loại tên lửa chống tăng có điều khiển như M47 Dragon hay Javelin.
 
Các phiên bản của M-113 còn có thể trang bị pháo tự động 25mm, súng Gatling 6 nòng 20mm, súng không giật, cối các loại, tên lửa chống tăng TOW, tên lửa phòng không.<ref name="vndefence"/>
* Chỉ đổ quân từ APC khi các vị trí của đối phương hoàn toàn bị bỏ trống.
* Khi đổ quân vào các ruộng lúa ngập nước, phần lớn ưu thế về tính di động bị mất. M-113 chỉ có thể di chuyển với tốc độ 20&nbsp;km/h ở địa hình này.
* Dùng súng máy 12.50cal7mm để giao chiến với đối phương ở tầm xa nhằm ngăn cản hỏa lực [[RPG]]. Khi bắn súng máy 12.50cal7mm, xa trưởng thường để phần đuôi của dây đạn xuống bên dưới nắp vòm. Ở trong khoang xe, đồng đội sẽ nối dây đạn này với dây đạn khác để đảm bảo hỏa lực liên tục. Cùng lúc, các thành viên khác sẽ hỗ trợ hỏa lực từ trên ngách của khoang chứa hàng, đồng thời đề phòng đối phương lặn dưới nước thở bằng các ống cây sậy rỗng. Khi bị phát hiện thì đối tượng sẽ bị tiêu diệt bằng lựu đạn hoặc bị xe nghiền nát.
* Mặc dù việc chiến đấu từ trên xe là khái niệm hoàn toàn khác xa so với học thuyết "xe taxi chiến trường" ban đầu và bị nhiều người phản đối, chiến đấu từ trên xe nhanh chóng lan rộng và được cả lực lượng Mỹ sử dụng.
* Các địa hình M-113 không đi được: các khu trồng mía, dừa, các khu vực gần sông, kênh rạch.
===Phát triển chiến thuật sử dụng M-113 của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa===
[[Tập tin:M113 damage.jpg|nhỏ|trái|200px|Chiếc M-113 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị bắn thiệt hại nặng]]
Đối với các loại súng máy hạng nặng hay súng chống tăng vác vai tầm gần như RPG chẳng hạn, thì M-113 là một miếng mồi ngon. Tuy nhiên, những khả năng trang bị thời kỳ đầu của Quân Giải phóng là gần như không thể có, vì vậy họ chỉ có thể đối phó lại bằng cách sử dụng mìn chống tăng, lựu đạn chùm để diệt xe dù hiệu quả rất thấp. Ngoài ra, họ cũng phát triển chiến thuật tập trung bắn tỉa xạ thủ trên nóc xe để gây hoang mang cho đối phương. Như trong [[trận Ấp Bắc]] tháng 1 năm 1963 khi mà có tối thiểu 14 xa trưởng/xạ thủ khẩu 12.50cal7mm bị giết bởi chiến thuật này.
 
Tuy vậy, với khả năng di chuyển địa hình tốt và sự thiếu thốn vũ khí chống tăng của đối phương, M-113 ngày càng được phát triển chiến thuật sử dụng như một xe chiến đấu. Lính bộ binh ở trên xe M-113 chiến đấu từ trong xe và khi đã đánh bật đối phương ra khỏi vị trí thì bộ binh mới bắt đầu xuống xe để chiếm giữ. M-113 dần được trang bị thêm nhiều loại khí tài bao gồm tấm chắn đạn cho khẩu.50 cal, súng máy M60 gắn ở hai bên sườn, bao cát và nhiều loại giáp tự chế khác được bố trí quanh xe như công sự để binh lính có thể chiến đấu mọi hướng từ trên xe. Việc trang bị dần trở nên chuẩn hóa vào năm 1966 với gói nâng cấp "A" bao gồm giáp chắn đạn cho khẩu.50 cal, giáp che 360 độ cho vị trí của xa trưởng và 2 súng máy M60 bên sườn cùng với tấm chắn đạn. Với cấu hình này, M-113 trở thành Xe bọc thép tấn công kị binh (''Armored Cavalry Assault Vehicle'' - '''ACAV'''), một khái niệm mới do thiếu tá Martin D. Howell, chỉ huy của liên đội 1, Trung đoàn kị binh bọc thép số 11, đề ra. Ngoài ra còn có gói nâng cấp "B" chỉ bao gồm giáp cho súng máy và bao quanh 360 độ vị trí của xa trưởng, thường được dùng trên các xe chở pháo cối.
23

lần sửa đổi