Khác biệt giữa các bản “M-113”

Không thay đổi kích thước ,  7 tháng trước
không có tóm lược sửa đổi
 
Đối với các loại súng máy hạng nặng hay súng chống tăng vác vai tầm gần như RPG chẳng hạn, thì M-113 là một miếng mồi ngon. Tuy nhiên, những khả năng trang bị thời kỳ đầu của Quân Giải phóng là gần như không thể có, vì vậy họ chỉ có thể đối phó lại bằng cách sử dụng mìn chống tăng, lựu đạn chùm để diệt xe dù hiệu quả rất thấp. Ngoài ra, họ cũng phát triển chiến thuật tập trung bắn tỉa xạ thủ trên nóc xe để gây hoang mang cho đối phương. Như trong [[trận Ấp Bắc]] tháng 1 năm 1963 khi mà có tối thiểu 14 xa trưởng/xạ thủ khẩu 12.7mm bị giết bởi chiến thuật này.
 
Tuy vậy, với khả năng di chuyển địa hình tốt và sự thiếu thốn vũ khí chống tăng của đối phương, M-113 ngày càng được phát triển chiến thuật sử dụng như một xe chiến đấu. Lính bộ binh ở trên xe M-113 chiến đấu từ trong xe và khi đã đánh bật đối phương ra khỏi vị trí thì bộ binh mới bắt đầu xuống xe để chiếm giữ. M-113 dần được trang bị thêm nhiều loại khí tài bao gồm tấm chắn đạn cho khẩu.50 cal12.7mm, súng máy M60 gắn ở hai bên sườn, bao cát và nhiều loại giáp tự chế khác được bố trí quanh xe như công sự để binh lính có thể chiến đấu mọi hướng từ trên xe. Việc trang bị dần trở nên chuẩn hóa vào năm 1966 với gói nâng cấp "A" bao gồm giáp chắn đạn cho khẩu.50 cal12.7mm, giáp che 360 độ cho vị trí của xa trưởng và 2 súng máy M60 bên sườn cùng với tấm chắn đạn. Với cấu hình này, M-113 trở thành Xe bọc thép tấn công kị binh (''Armored Cavalry Assault Vehicle'' - '''ACAV'''), một khái niệm mới do thiếu tá Martin D. Howell, chỉ huy của liên đội 1, Trung đoàn kị binh bọc thép số 11, đề ra. Ngoài ra còn có gói nâng cấp "B" chỉ bao gồm giáp cho súng máy và bao quanh 360 độ vị trí của xa trưởng, thường được dùng trên các xe chở pháo cối.
 
So với khái niệm [[Xe chiến đấu bộ binh]] (''Infantry fighting vehicle'' - '''IFV''') truyền thống, ACAV có phần khác biệt để phù hợp với cách đánh ở Việt Nam. Không trang bị một loại hỏa lực mạnh để chống tăng, dù một số phiên bản M-113 có thể được trang bị súng không giật, tên lửa chống tăng, nhưng ACAV lại có hỏa lực tổ hợp bao gồm 1 súng máy.50 cal12.7mm (đôi khi là cả súng phóng lựu 40mm) và 2 súng máy 7,62mm chưa kể đến các súng cá nhân của binh sĩ. Với các tấm giáp bảo vệ trên nóc, binh sĩ trên xe M-113 có thể chiến đấu 360 độ quanh xe một cách dễ dàng, không bị hạn chế mà vẫn có một phần giáp bảo vệ. Ở hầu hết các đơn vị, sàn xe được lót bao cát để giảm hiệu quả của mìn. Để chống mìn tốt hơn nữa, ACAV còn được gắn giáp dưới bụng là các tấm [[titan]]. Một số vật dụng trong xe được dỡ bỏ để lấy không gian chứa đạn dược và vật dụng của binh sĩ. Các tấm chắn bùn cũng được tháo ra để tránh cho bùn đất đóng cứng vào.
 
Trang bị cơ bản của một chiếc ACAV gồm 1 súng máy.50 M2HB, 2 súng máy 7,62mm M60. Tổ lái thông thường: lái xe, xa trưởng/ xạ thủ M2HB, 2 xạ thủ M60, 2 người nạp đạn. Mọi thành viên đều có một súng M16 và dùng chung một súng phóng lựu M79 40mm. Cơ số đạn: 3500 viên.50 cal12.7mm, 8500 viên 7,62mm, 5000 viên 5,56mm, 150 viên đạn súng phóng lựu 40mm.
 
Với trang bị như trên, hầu hết các xe M-113 đều bị quá tải, khả năng lội nước của xe bị giảm đi và ít khi được sử dụng. Tuy vậy, khả năng chiến đấu của M-113 lại tăng lên, thích hợp với chiến thuật chống lại đối phương chỉ bao gồm bộ binh phân án ẩn nấp ở nhiều nơi, một chiến thuật mà Quân Giải phóng thường xuyên áp dụng để giảm bớt tác động của hỏa lực tập trung hùng hậu của quân Mỹ.
23

lần sửa đổi