Mở trình đơn chính

Các thay đổi

→‎Danh nhân: Ông ngoại Lê Quý Đôn
*Trần Bích Hoành (1469 - 1550): Năm 42 tuổi đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) thời vua Lê Tương Dực, làm quan giám sát Ngự sử. Có tên ở bia Đề danh tiến sĩ [[Văn Miếu - Quốc Tử Giám]], [[Hà Nội]]. Quê xã Hồng Khê, nay thuộc xã [[Yên Bắc]], huyện Duy Tiên.
*Tạ Đình Huy (1474 - 1542): Năm 38 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Đồng Thuận 3 (1511) thời vua Lê Tương Dực cùng khoa thi với Trần Bích Hoành, làm quan chức cấp sự trung. Có tên ở bia Đề danh tiến sĩ [[Văn Miếu - Quốc Tử Giám]], [[Hà Nội]] dựng ngày 15 tháng 3 (1511). Quê xã Hồng Khê, nay thuộc xã [[Yên Bắc]], huyện Duy Tiên.
*[[Trương Minh Lượng]] (1636 - ?1712): Quê xã Nguyễn Xá, nay là thôn Nguyễn, xã [[Tiên Nội]], huyện Duy Tiên. Năm 65 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà 21 (1700) thời vua Lê Hy Tông, truy phong Thiếu bảo hoành nguyên hầu, chức Tự Khanh. Ông có tên ở bia Đề danh tiến sĩ ở [[Văn Miếu - Quốc Tử Giám]], [[Hà Nội]].
*[[Lê Trọng Thứ]] (1694 - 1782): Người xã Diên Hà, huyện Diên Hà, nay là huyện [[Hưng Hà]], tỉnh [[Thái Bình]], là cha của tiến sĩ [[Lê Quý Đôn]]. Ông kết duyên với bà Trương Thị Ích là con gái thứ 3 tiến sĩ Trương Minh Lượng. Ông có nhiều công lao, được dân làng Khả Duy, xã [[Mộc Bắc]], huyện Duy Tiên thờ làm thành hoàng sống và lập đền thờ, ở đình làng Khả Duy hiện nay thờ ông bằng tượng. Theo dân làng cho biết được sự đồng ý của ông, dân làng dùng 72 viên gạch Bát Tràng để tạo tượng, khi ông còn sống vào năm 72 tuổi.
*[[Lê Quý Đôn]] (1726 - 1782): Là con trai trưởng của tiến sĩ [[Lê Trọng Thứ]], cháu ngoại tiến sĩ Trương Minh Lượng. Đỗ bảng nhãn khoa Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng  thứ 23, thời vua Lê Hiển Tông (1762).