Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Diều (đồ chơi)”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎top: clean up using AWB)
Không có tóm lược sửa đổi
==Lịch sử==
 
Thú vui thả diều có nguồn gốc từ nghệ thuật làm mo vào thời cổ đại của [[người Hoa|người Trung Quốc]] cách đây 2800 năm.<ref>An alternative theory from kite authors Clive Hart and Tal Streeter holds that leaf kites existed far before that time in what is now [[Indonesia]], based on their interpretation of cave paintings on [[Muna Island]] off [[Sulawesi]]</ref><ref>[http://www.drachen.org/journals/journal10/journal_10.pdf Two lines of evidence: analysis of leaf kiting and some cave drawings] ''Drachen Foundation Journal'' Fall 2002, page 18.{{dead link|date=October 2012}}</ref> Chiếc diều đầu tiên có thể đã xuất hiện vào thời kỳ [[Xuân Thu]] do người thợ [[Lỗ (nước)|nước Lỗ]] có tên [[Lỗ Ban]] dùng gỗ chế tạo thành, thời đó cũng đã có sự xuất hiện của diều được làm bằng trúc và đến thời nhà Hán thì có sự xuất hiện của diều được làm bằng giấy, được gọi là "纸鸢" tức "chỉ diên" (diều hình [[Diều hâu|chim diều hâu]]), nhưng không được phổ biến rộng rãi cho lắm, do ngành giấy lúc này mới bắt đầu hình thành.
 
Vào thời cổ đại, cứ mỗi dịp [[thanh minh|tết Thanh Minh]] đến, sau khi đã làm lễ cúng bái tổ tiên, người dân Trung Quốc đều có phong tục thả diều. Người xưa cho rằng, thả diều có thể xua đuổi tà khí và những điều rủi ro, xúi quẩy. Họ ghi hết tên những loại bệnh dịch nguy hiểm lên trên thân diều, sau khi đã thả cho diều bay thật cao sẽ dùng kéo cắt đứt dây. Họ muốn nhờ gió đưa diều đến chân trời góc biển và đem theo những loại bệnh dịch này cách xa con người, tránh cho con cháu của họ thoát khỏi bệnh tật… Không những vậy diều còn được các nhà sư dùng với ý nghĩa cầu sự yên bình tốt lành, do đó mỗi lần diều rơi các nhà sư đều làm lễ cúng bái để xua đuổi tà khí và cầu an. Hay diều còn được coi là vật dâng hiến các đấng thần linh của vua và các quần thần trong những đêm trăng sáng.