Khác biệt giữa các bản “Kuroda Kiyotaka”

không có tóm lược sửa đổi
n (r2.6.4) (Bot: Sửa it:Kiyotaka Kuroda)
|office =[[Thủ tướng Nhật Bản]] thứ 2
|salary =
|term_start =[[30 tháng 4]], [[1888]]
|term_end =[[25 tháng 10]], [[1889]]<br>{{số năm theo năm và ngày|1888|4|30|1889|10|29}}
|predecessor =[[Ito Hirobumi]]
|successor =[[Yamagata Aritomo]]
|constituency = [[Thiên hoàng Meiji]]
|office2 =
|salary2 =
|party =không có
|religion =
|occupation =[[Tập tin:War flag of the Imperial Japanese Army.svg|22x20px|border]] [[Trung tướng]], [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản]]<br />Bộ trưởng Nội các<br />[[Genrō]]<br />Chủ tịch [[Xú mật viện]]
|majority =
|spouse =
Dưới [[chính quyền Meiji]] mới, Kuroda trở thành nhà ngoại giao tiên phong cho vấn đề [[Sakhalin|Karafuto]], được cả Nhật Bản và [[Nga]] tuyên bố chủ quyền năm 1870. Lo sợ việc người Nga tiến về phía Đông, Kuroda trở về Tokyo và chủ trương nhanh chóng phát triển và ổn định biên giới phái Bắc Nhật Bản. Năm 1871, ông công du [[Châu Âu]] và [[Hoa Kỳ]] 5 tháng, và khi trở về Nhật Bản năm 1872, ông được giao nhiệm vụ khai hoang [[Hokkaidō]].
 
Năm 1874, Kuroda được bổ nhiệm làm Giám đốc [[Cơ quan Khai hoang Hokkaidō]], và tổ chức kế hoạch dân quân khai hoang để ổn định hòn đảo với các cựu samurai thất nghiệp và binh lính nghỉ hưu, những người vừa làm nông dân, vừa làm dân quân địa phương. Ông cũng được phong làmhàm [[Trung tướng]] (3 sao) trong [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản]]. Kuroda mời [[o-yatoi gaikokujin|các chuyên gia nông nghiệp nước ngoài]] với khí hậu tương tự tới thăm Hokkaidō, và đưa ra các lời khuyên về cây trồng và phương pháp canh tác hiệu quả.
 
Kuroda được cử đi làm Công sứ [[Triều Tiên]] năm 1875, và đàm phán [[Điều ước Ganghwa]] năm 1876. Năm 1877, ông cũng tham gia đội quân đánh dẹp cuộc [[nổi loạn Satsuma]]. Năm [[1878]], ông trở thành lãnh đạo của [[phiên Satsuma]] sau khi [[Okubo Toshimichi]] bị ám sát.
 
Ít lâu trước khi ông rời Cơ quan ở Hokkaidō, Kuroda trở thành nhân vật trung tâm trong vụ Scandal của Cơ quan Khai hoang Hokkaidō năm 1881. Là một phần của chương trình tư nhân hóa của chính phủ, Kuroda cố bán tài sản của Cơ quan Khai hoang Hokkaido cho một [[consortium]] thương mại do một vài người bạn Satsuma lập ra với giá tượng trưng. Khi các điều khoản của hợp đồng rò rỉ đến tai báo chí, sự giận dữ của công chúng khiến việc mua bán thất bại. Cũng trong năm 1881, vợ của Kuroda qua đời vì [[bệnh phổi]], nhưng có tin đồn rằng Kuroda đã giết bà khi say rượu, xác chết được đào lên và khám nghiệm. Kuroda vô tội, nhưng tin đồn về những vấn đề của ông với [[chứng nghiện rượu]] vẫn còn dai dẳng.
[[Tập tin:KanfadoKantai.jpg|nhỏ|350px|Đoàn sứ thần của Kuroda Kiyotaka, ở [[Pusan]], trên đường đến [[đảo Ganghwa]] (江華島), [[Triều Tiên]], 16 tháng 1, 1876. Có 2 tàu chiến ( [[Pháo hạm Nhật Bản Nisshin|''Nisshin'']], ''[[Tàu chiến Nhật Bản Moshun|Moshun]]'') và 3 tàu chở quân của [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản]], và một tàu lớn chở sứ đoàn do Kuroda dẫn đầu.]]
[[Tập tin:GanghwaTreaty.jpg|nhỏ|300px|Kuroda Kiyotaka ký [[Điều ước Ganghwa]], mở cửa Triều Tiên cho thương mại Nhật Bản, năm 1876.]]
223.253

lần sửa đổi