Khác biệt giữa các bản “Danh sách đĩa nhạc của Lady Gaga”

n
"peak" dịch được, không nên để một thuật ngữ tiếng Anh mà có thể Việt hóa untranslated + đơn giản hóa prose
n ("peak" dịch được, không nên để một thuật ngữ tiếng Anh mà có thể Việt hóa untranslated + đơn giản hóa prose)
| Image size =
| Alt =
| Caption = <span style="line-height: 1.5em;">Lady Gaga biểu diễn trong chuyến lưu diễn [[Joanne World Tour]] của cô vào năm 2017</span>
| Studio = 5
| Compilation = 3
}}
 
Nữ ca sĩ người Mỹ [[Lady Gaga]] đã cho phát hành 5 [[album phòng thu]], 1 [[album nhạc phim]], 3 [[album tổng hợp]], 3 [[Video|album video]], 4 [[EP]], 29 [[đĩa đơn]] (trong đó 2 đĩa đơn cô xuất hiện với vai trò là nghệ sĩ góp giọng), và 9 [[đĩa đơn quảng bá]]. Gaga lần đầu tiên bước chân vào ngành công nghiệp âm nhạc với album phòng thu đầu tay ''[[The Fame]]'' ra mắt năm 2008.<ref>{{chú thích web|url=http://www.people.com/people/lady_gaga|title=Lady Gaga|work=[[People (tạp chí)|People]]|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20100729183549/http://www.people.com/people/lady_gaga|archivedate=ngày 29 tháng 7 năm 2010}}</ref> Album peak{{efn|"Peak" là một thuật ngữ trong ngành công nghiệp âm nhạc, chỉđạt vị trí caothứ nhất mà một nhạc phẩm (đĩa đơn hoặc album hoặc bài hát) từng đạt đượchai trên một bảng xếp hạng âm[[Billboard nhạc200|''Billboard'' nào đó.}} tại vị trí thứ hai200]] và được [[Danh sách chứng nhận doanh số đĩa thu âm|cấp chứng nhận]] 3 lần đĩa Bạch kim tại Hoa Kỳ<ref name="USAlbums"/><ref name="RIAA"/> đồng thời giữ vị trí quán quân tại Áo, Canada, Đức, Thuỵ Sĩ và {{abbr|L.H. Anh|Vương quốc Liên hiệp Anh (L.H. Anh)Bắc Ireland}}.<ref name="GER"/><ref name="UKCharts"/> Hai đĩa đơn đầu tiên của album, "[[Just Dance (bài hát)|Just Dance]]" và "[[Poker Face (bài hát của Lady Gaga)|Poker Face]]" đều đạt được thành công trên quy mô quốc tế, vươn lên dẫn đầu các bảng xếp hạng tại Úc, Canada, L.H. Anh và Hoa Kỳ.<ref name="AUSCharts"/><ref name="CANSingles"/><ref name="UKSingles"/> Ba đĩa đơn còn lại của album gồm: "[[Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)]]", "[[LoveGame]]" và "[[Paparazzi (bài hát của Lady Gaga)|Paparazzi]]". "Paparazzi" từng lọt vào top 10 tại nhiều quốc gia và đạt vị trí thứquán nhấtquân tại Đức.<ref name="GER"/>
 
Cuối năm 2009, Gaga phát hành ''[[The Fame Monster]]'', với vai trò là phiên bản cao cấp và [[Album tái phát hành|tái phát hành]] của ''The Fame'', sau này được phát hành như một [[EP]] riêng biệt.<ref name="Birchmeier">{{chú thích web|url={{Allmusic|class=artist|id=lady-gaga-p1055684|pure_url=yes}}|title=Lady Gaga <nowiki>&#124;</nowiki> Biography|last=Birchmeier|first=Jason|publisher=[[AllMusic]]|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019}}</ref> EP vươn lên vị trí dẫn đầu tại Úc, New Zealand, L.H. Anh;, và vị trí thứ năm tại Hoa Kỳ, nơi nó được chứng nhận Bạch kim.<ref name="USAlbums"/><ref name="RIAA"/><ref name="AUSCharts"/> Đĩa đơn đầu tiên của album, "[[Bad Romance]]", gặt hái nhiều thành công quy mô quốc tế, đạt vươn lên vívị trí quánthứ quânhai tại 12Hoa quốc giaKỳpeakvươn tạilên vị trí thứquán haiquân tại Hoa12 Kỳquốc gia. Các đĩa đơn tiếp theo, "[[Telephone (bài hát)|Telephone]]" và "[[Alejandro (bài hát)|Alejandro]]" là các bản hit của Gaga lọt vào top 10 tại nhiều nước. Tính đến tháng 4 năm 2012, doanh số tiêu thụ tổng cộng của ''The Fame'' và ''The Fame Monster'' đạt 15 triệu bản trên toàn cầu.<ref name="Album Sales">{{chú thích web|url=http://www.bigconcerts.co.za/shows/lady-gaga/LadyGaga_PressRelease.pdf|title=Big Concerts & Live Nation Entertainment Press Release|publisher=Big Concerts|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|archiveurl=https://web.archive.org/web/20120904135905/http://www.bigconcerts.co.za/shows/lady-gaga/LadyGaga_PressRelease.pdf|archivedate=ngày 4 tháng 9 năm 2012}}</ref> [[Album tổng hợp]] đồng thời là [[album phối lại]] đầu tiên của nữ ca sĩGaga, ''[[The Remix (album của Lady Gaga)|The Remix]]'', được phát hành vào năm 2010, bao gồm các bản remix của các ca khúc nằm trong ''The Fame'' và ''The Fame Monster''. ''The Remix'' peak tạiđạt vị trí thứ sáu tại Hoa Kỳ và nằm trong top 5 tại Canada và L.H. Anh.<ref name="USAlbums"/><ref name="UKCharts"/><ref name="CANAlbums"/> Album đã bán ra hơn 500.000 bản sao trên toàn thế giới, trở thành một trong những album phối lại bán chạy nhất mọi thời đại.<ref name=remixsales/>
 
''[[Born This Way]]'', album phòng thu thứ hai của Gaga được phát hành vào cuối tháng 5 năm 2011<ref name="Kreps">{{chú thích web|url=https://www.rollingstone.com/music/news/lady-gaga-names-her-new-album-born-this-way-20100913|title=Lady Gaga Names Her New Album 'Born This Way'|last=Kreps|first=Daniel|date=13 tháng 9 năm 2010|work=[[Rolling Stone]]|publisher=[[Jann S. Wenner]]|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20101225025406/http://www.rollingstone.com/music/news/lady-gaga-names-her-new-album-born-this-way-20100913|archivedate=ngày 25 tháng 12 năm 2010}}</ref> và giành lấy vị trí quán quân trên bảng xếp hạng [[Billboard 200|''Billboard'' 200]] của Hoa Kỳ cũng như tại 20 quốc gia khác. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "[[Born This Way (bài hát)|Born This Way]]" leo lên vị trí quán quân tại 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, là đĩa đơn thứ ba giành được vị trí cao nhất tại đây.<!-- NgoàiCâu ra,này Gaganghĩa còn chosao? phát hành--> 4 đĩa đơn khác, là "[[Judas (bài hát)|Judas]]", "[[The Edge of Glory]]", "[[You and I (bài hát của Lady Gaga)|You and I]]" và "[[Marry the Night]]". Tháng 11 năm 2013, Gaga cho phát hành album phòng thu thứ ba, lấy tựa đề ''[[Artpop]]'' và chọn ba bài hát "[[Applause (bài hát)|Applause]]", "[[Do What U Want]]" và "[[G.U.Y.]]" làm ba đĩa đơn của album. Vào tháng 9 năm 2014, Gaga cùng với nam nhạc sĩ [[Tony Bennett]] cho ra mắt album hợp tác ''[[Cheek to Cheek (album)|Cheek to Cheek]]''. Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên ''Billboard'' 200, trở thành album thứ ba liên tiếp của Gaga đạt vị trí caoquán nhấtquân kể từ ''Born This Way''.<ref name="usc2c">{{chú thích web|url=http://www.billboard.com/biz/articles/6266770/tony-bennett-lady-gagas-cheek-to-cheek-debuts-at-no-1|title=Tony Bennett & Lady Gaga's 'Cheek To Cheek' Debuts at No. 1|last=Caulfield|first=Keith|date=1 tháng 10 năm 2014|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|work=Billboard|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20141003135447/http://www.billboard.com/biz/articles/6266770/tony-bennett-lady-gagas-cheek-to-cheek-debuts-at-no-1|archivedate=ngày 3 tháng 10 năm 2014}}</ref> Album phòng thu thứ năm của nữ ca sĩ, mang tên ''[[Joanne (album)|Joanne]]'', được phát hành vào tháng 10 năm 2016. Đĩa đơn đầu tiên và thứ hai của album, "[[Perfect Illusion]]" và "[[Million Reasons]]" làn lượt ra mắt tại vị trí quán quân tại Pháp và peak tạiđạt vị trí thứ tư tại Hoa Kỳ.<ref name="USSingles"/><ref name=Francedebut>{{chú thích web|url=http://www.snepmusique.com/tops-semaine/top-singles-telecharges/?ye=2016&we=37|title=Le Top de la semaine : Top Singles Téléchargés – SNEP (Week 37, 2016)|publisher=[[Syndicat National de l'Édition Phonographique]]|language=fr|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20160919140946/http://www.snepmusique.com/tops-semaine/top-singles-telecharges/?ye=2016&we=37|archivedate=ngày 19 tháng 9 năm 2016}}</ref> Sau khi ''Joanne'' đạt vị trí caothứ nhất tại Hoa Kỳ, Gaga trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên sở hữu bốn album đạt vị trí quán quân tại quốc gia này trong thập niên 2010.<ref>{{chú thích web|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/7557828/lady-gaga-scores-her-fourth-no-1-album-on-billboard-200-chart-joanne|title=Lady Gaga Scores Her Fourth No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Joanne'|work=Billboard|last=Caulfield|first=Keith|date=30 tháng 10 năm 2016|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20161030194903/http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/7557828/lady-gaga-scores-her-fourth-no-1-album-on-billboard-200-chart-joanne|archivedate=ngày 30 tháng 10 năm 2016}}</ref> Năm 2018, Gaga và nam diễn viên [[Bradley Cooper]] chophát ra mắthành [[A Star Is Born (nhạc phim 2018)|album nhạc phim]] của bộ phim chiếu rạp ''[[Vì sao vụt sáng]]'' (''A Star Is Born''), nâng cao kỷ lục của Gaga đã nêu trước đó từ con số bốn lên năm.<ref name="asibdebut">{{chú thích web|url=https://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/8479831/a-star-is-born-soundtrack-no-1-debut-billboard-200|title=Lady Gaga & Bradley Cooper's 'A Star Is Born' Soundtrack Debuts at No. 1 on Billboard 200 Albums Chart|work=Billboard|last=Caulfield|first=Keith|date=14 tháng 10 năm 2018|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019}}</ref> Album cùng với đĩa đơn đầu tiên "[[Shallow (bài hát của Lady Gaga và Bradley Cooper)|Shallow]]" giành được vị trí đầu bảng tại Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Thuỵ Sĩ và L.H. Anh.
 
Tính đến tháng 1 năm 2016, Gaga đã bán được khoảng 27 triệu album và 146 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới.<ref>{{chú thích web|title=Lady Gaga Exits WME for CAA|url=http://www.billboard.com/articles/news/6836620/lady-gaga-signs-caa|work=[[Billboard (tạp chí)|Billboard]]|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|date=12 tháng 1 năm 2016|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20160114174444/http://www.billboard.com/articles/news/6836620/lady-gaga-signs-caa|archivedate=ngày 14 tháng 1 năm 2016}}</ref> Tại L.H. Anh, nữ ca sĩ đã bán được 7,25 triệu đĩa đơn<ref>{{chú thích web|title=Official chart analysis: weekly album sales plummet to record 21st Century low, Adele back at No.1|url=http://www.musicweek.com/news/read/official-chart-analysis-weekly-album-sales-plummet-to-record-21st-century-low-adele-back-at-no1/048591|date=15 tháng 4 năm 2012|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|work=[[Music Week]]|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20121110121826/http://www.musicweek.com/news/read/official-chart-analysis-weekly-album-sales-plummet-to-record-21st-century-low-adele-back-at-no1/048591|archivedate=ngày 10 tháng 11 năm 2012}}</ref> và tại Hoa Kỳ, cô đã tiêu thụ được 11,46 triệu album<ref name="uscareersales18">{{chú thích web|title=Ask Billboard: Lady Gaga's Career Sales, The Biggest No. 2 Hits & Ed Sheeran's Latest Chart Record|url=https://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/8218920/-lady-gaga-sales-number-2-hot-100-hits-ed-sheeran-record-ask-billboard|date=25 tháng 2 năm 2018|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|work=Billboard|last=Trust|first=Gary}}</ref> và trở thành nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có hai bài hát sở hữu lượt tải về là 7 triệu đơn vị ("Poker Face" và "Just Dance").<ref>{{chú thích web|last=Trust|first=Gary|title=Ask Billboard: Lady Gaga First Artist With Two 7-Million-Selling Downloads|url=http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6715365/ask-billboard-lady-gaga-first-artist-with-two-7-million-selling|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019|work=Billboard|date=2 tháng 10 năm 2015|deadurl=no|archiveurl=https://web.archive.org/web/20151004203052/http://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/6715365/ask-billboard-lady-gaga-first-artist-with-two-7-million-selling|archivedate=ngày 4 tháng 10 năm 2015}}</ref> Theo tính toán của [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ]] (RIAA), tính đến tháng 2 năm 2019, Gaga xếp thứ 11 trong danh sách những nghệ sĩ có doanh số tiêu thụ đĩa đơn dạng [[Tải nhạc|nhạc số]] cao nhất tại Hoa Kỳ, ước tính khoảng 61 triệu lượt tải về và lượt [[Streaming|stream]].<ref>{{chú thích web|url=https://www.riaa.com/gold-platinum/?tab_active=top_tallies&ttt=TAS|title=Top Artists (Digital Singles)|publisher=[[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ]]|accessdate=ngày 16 tháng 6 năm 2019}}</ref>