Khác biệt giữa các bản “Kim loại chuyển tiếp”

n
→‎Trạng thái ôxi hóa: png -> svg, lang=vi
n (→‎Trạng thái ôxi hóa: png -> svg, lang=vi)
Nếu so sánh với các nguyên tố của phân nhóm chính nhóm II như [[canxi]] thì [[ion]] của các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều trạng thái ôxi hóa khác nhau. Thông thường thì canxi không mất nhiều hơn là 2 điện tử trong khi các kim loại chuyển tiếp có thể cho đến 9 điện tử. Nếu xem xét [[entanpi]] ion hóa của hai nhóm thì sẽ nhận thấy được nguyên nhân. Năng lượng cần dùng để lấy đi 2 điện tử của canxi ở quỹ đạo s ngoài cùng ở mức thấp. Ca<sup>3+</sup> có một entanpi ion hóa lớn đến mức mà thông thường thì ion này không tồn tại. Các kim loại chuyển tiếp như vanađi do có độ chênh lệch năng lượng thấp giữa các quỹ đạo 3d và 4s nên entanpi ion hóa tăng gần như tuyến tính theo các quỹ đạo d và s. Vì thế mà các kim loại chuyển tiếp cũng tồn tại với các số ôxi hóa rất cao.
 
[[Tập tin:Transition metal oxidation states.pngsvg|lang=vi|giữa|frame|Trạng thái ôxi hóa của kim loại chuyển tiếp]]
Dọc theo một chu kỳ có thể nhận thấy được một số khuôn mẫu tính chất nhất định:
* Số lượng của những trạng thái ôxi hóa tăng đến [[mangan]] và sau đó giảm đi. Nguyên nhân là do các lực hút [[proton]] trong hạt nhân mạnh hơn nên khó cho điện tử hơn.
3

lần sửa đổi