Khác biệt giữa các bản “Trần Thánh Tông”

n
replaced: . {{sfn → .{{sfn (2) using AWB
n (Đã lùi lại sửa đổi của 113.190.233.220 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Ngomanh123)
Thẻ: Lùi tất cả
n (replaced: . {{sfn → .{{sfn (2) using AWB)
''Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, người nối cơ nghiệp tổ tông nên cùng anh em trong tôn thất cùng hưởng phú quý. Dầu rằng cả thiên hạ cùng phụng thờ một người đó là sự tôn kính điển thường theo về danh phận, nhưng anh em là xương thịt rất thân, gặp lúc lo thì cùng lo, gặp lúc vui thì cùng vui. Trẫm với các khanh, nói về tình thân cũng như thân thể một người không thể chia cắt được. Các khanh nên đem lời nói này của trẫm truyền bá cho.''|||Trần Thánh Tông}}
 
Sau mỗi buổi thiết triều, Hoàng đế cho phép các vương hầu, tôn thất vào nội cung ăn uống nô đùa mà không phân tôn ti trật tự. Các hoàng thân trong nội điện thường ăn chung một cỗ và cùng ngủ chung một giường, một chăn với nhau, chỉ lúc nào có việc công, hay buổi chầu, thì mới phân thứ tự theo lẽ phép. {{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=217}}{{sfn|Trần Trọng Kim|1971|p=52}}
 
===Đối nội===
Nhà vua cũng quan tâm đến việc nâng cao thực lực quốc phòng của Đại Việt.{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=214}}{{sfn|Trần Trọng Kim|1971|p=52}} ''Đại Việt Sử ký Toàn thư'' thuật lại rằng đầu năm 1261, Thánh Tông vừa lên ngôi đã ra lệnh ''"chọn đinh tráng các lộ làm lính, còn thì sung làm sắc dịch các sảnh, viện, cục và đội tuyển phong các phủ, lộ, huyện"''.{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=176}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=212}} Đến tháng 3 âm lịch năm [[1262]], ông xuống chiếu dụ quan quân chế tạo khí giới và đúc chiến thuyền; đồng thời, ông tổ chức tập trận cho [[lục quân]] và [[thủy quân]] tại chín bãi phù sa dọc theo sông [[Bạch Hạc]] (nay thuộc [[Việt Trì]], [[Phú Thọ]]).{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=177}} Sau đó, tháng 8 âm lịch năm 1267, Trần Thánh Tông chia quân đội làm nhiều "quân", mỗi quân được hợp thành từ 30 "đô" (một đô gồm 80 lính).{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=180}} Ông còn chọn những tướng lĩnh tài ba như [[Lê Phụ Trần]] làm Thủy quân Đại tướng quân (1259) và Chiêu Minh Đại vương [[Trần Quang Khải]] – em ruột hoàng đế – làm Thái úy (1262), rồi Tướng quốc Thái úy (1271).{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=213}}{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=176}}{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|pp=211-212}} Ngoài ra, vào tháng 9 âm lịch năm 1262, nhà vua truyền lệnh xem xét tình trạng của tù nhân. Phần lớn tội phạm đều được ân xá, riêng những người đã đầu hàng quân Mông Cổ trong cuộc chiến tranh năm 1258 thì bị trừng trị thẳng tay.{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=214}}
 
Mùa xuân năm 1277, người Man, Lào nổi dậy ở động Nẫm Bà La (phủ [[Bố Chính]] - nay là [[Quảng Bình]]). Hoàng đế Trần Thánh Tông cùng [[Thái úy]] Trần Quang Khải đích thân đi đánh dẹp, bắt được 1000 người về kinh sư. {{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=205}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=220}}{{sfn|Trần Xuân Sinh|2006|p=128}}
 
===Đối ngoại===
Sau khi Thăng Long thất thủ, Thoát Hoan lệnh cho Ô Mã Nhi truy đuổi Thánh Tông và Nhân Tông. Nhưng hai vua đã lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi theo cửa Giao Thủy đi ra biển vòng lên Tháp Sơn ([[Đồ Sơn]]).{{sfn|Trần Xuân Sinh|2006|p=221}}{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=293-298}} Ô Mã Nhi lui quân về Thăng Long. Không tin rằng đoàn thuyền lương của Văn Hổ đã bị tiêu diệt, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi dẫn thủy quân đi tìm Văn Hổ. Lúc này hai vua và Hưng Đạo vương đã tập trung quân thủy bộ ở Tháp Sơn. Khi quân Ô Mã Nhi qua đây, quân Đại Việt tổ chức tập kích ở cửa Văn Úc (ngày 10 tháng 2 năm 1288), và trên biển gần Tháp Sơn, gây nhiều tổn thất cho quân Nguyên. Ô Mã Nhi bèn dẫn quân trở lại Vạn Kiếp.<ref name="chientranhvequoc1288"/>{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=300-304}}
 
Ở Thăng Long mà không có lương thực, Thoát Hoan lúng túng. Không những thế, quân Đại Việt đã phản công mạnh mẽ và kiểm soát vùng [[Hải Dương]] và [[Hải Phòng]] đẩy Thoát Hoan vào nguy cơ bị cắt đường về Vạn Kiếp. Tình huống này buộc Thoát Hoan rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp.{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=300-304}} Hai vua Trần ban đầu sai Hưng Ninh vương đến giả vờ hẹn ngày đầu hàng để địch mất cảnh giác, sau đó mở các cuộc đột kích đêm vào Vạn Kiếp.<ref name="chientranhvequoc1288">{{chú thích sách |tác giả =Lê Mạnh Thát |tựa đề= Trần Nhân Tông: Con người và tác phẩm |dịch tựa đề= |url= |định dạng= |ngày truy cập= 18 tháng 11 năm 2016 |bản thứ= |series= |cuốn= |ngày tháng= |năm= 1999 |tháng= |năm gốc= |nhà xuất bản= Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh |nơi= |ngôn ngữ= tiếng Việt |isbn= |chương= Chương IV: Vua Trần Nhân Tông Và Cuộc Chiến tranh Vệ Quốc Năm 1288. |url chương= http://thuvienhoasen.org/p59a12912/phan-i-nghien-cuu-ve-tran-nhan-tong-chuong-iv-vua-tran-nhan-tong-va-cuoc-chien-tranh-ve-quoc-nam-1288}}</ref> Cuối tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan quyết định lui quân khỏi Đại Việt; Ô Mã Nhi được lệnh dẫn một cánh quân thủy rút về trước.{{sfn|Viện lịch sử quân sự Việt Nam|2000|pp=319-320}}{{sfn|Ngô Thì Sĩ|1991|pp=81-82}} Ngày 9 tháng 4, cánh quân này tiến đến [[sông Bạch Đằng]] và lọt vào [[Trận Bạch Đằng (1288)|trận địa mai phục]] của đại quân Đại Việt.{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=308-310}} Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thánh Tông, Nhân Tông và Hưng Đạo vương, quân Đại Việt đã tiêu diệt toàn bộ cánh quân thủy của địch. Nội Minh tự Đỗ Hành bắt các tướng Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ nộp cho Thánh Tông.{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=316-317}}{{sfn|Ngô Thì Sĩ|1991|pp=81-82}} ''Đại Việt Sử ký Toàn thư'' mô tả Thượng hoàng đã sai người đưa hai tướng Nguyên lên thuyền ngự, rồi "''cùng ngồi nói chuyện với chúng và uống rượu vui vẻ''".{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=198}}
 
Một ngày trước trận Bạch Đằng, đại quân Nguyên của Thoát Hoan bắt đầu rút từ Vạn Kiếp lên biên giới. Hữu thừa Nguyên là Trình Bằng Phi chọn những binh sĩ thiện chiến yểm hộ cho Thoát Hoan chạy về nước. Quân Nguyên về tới ải Nội Bàng ([[chũ, Lục Ngạn|thị trấn Chũ]] và xã Bình Nội của [[Bắc Giang]] ngày nay) thì bị quân Đại Việt phục kích dữ dội, vạn hộ Nguyên là Trương Quân phải đem 3000 quân liều chết chiến đấu mới thoát khỏi cửa ải. Qua được Nội Bàng, Thoát Hoan lại nhận tin trinh sát rằng phía trước có 30 vạn quân Đại Việt trải dọc suốt 100 dặm mai phục, đành đổi hướng đi qua Đơn Kỷ (khoảng huyện [[Đình Lập]] tỉnh Lạng Sơn ngày nay) về Lộc Châu. Tuy nhiên qua đường này, quân Nguyên vẫn bị quân Đại Việt tập kích. Quân Đại Việt từ trên cao bắn tên độc, giết các tướng Trương Ngọc và Abaci. Theo ''Nguyên sử'', quân Nguyên lúc đó đã ''"thiếu ăn lại mệt vì chiến đấu, tướng tá nhìn nhau thất sắc"'' nhưng vẫn phải ''"cố xông vào mà đánh"'' và ''"buộc vết thương lại mà đánh"''.{{sfn|Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm|1972|pp=318–323}}{{sfn|Quốc sử quán triều Nguyễn|1998|p=236}} Đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân Nguyên đã bị quét sạch hoàn toàn khỏi Đại Việt.<ref name="chientranhvequoc1288"/>
 
Trước khi mất năm 1300, Hưng Đạo Đại vương [[Trần Quốc Tuấn]] khi được Hoàng đế [[Trần Anh Tông]] thăm hỏi, ông đã hồi tưởng lại tinh thần ''"vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức"'' của thời đại Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông khiến Đại Việt chống chọi được sự bao vây bốn mặt của Toa Đô, Ô Mã Nhi và ''"giặc phải bị bắt"''.{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|p=210}}
''Nếu các khanh biết chắc là [[Đế quốc Mông Cổ|giặc Hồ]] không vào cướp nữa thì nói rõ cho trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế mà đã vội thưởng hậu, vạn nhất giặc Hồ trở lại và các khanh lại lập công nữa thì trẫm lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ.''|||Trần Thánh Tông}}
 
[[Tập tin:Lăng Trần Thánh Tông.jpg|nhỏ|Lăng [[Trần Thánh Tông]] ở Long Hưng, [[Thái Bình]].]]
Khi quân Nguyên tháo chạy, bỏ lại một tráp công văn. Quân Đại Việt bắt được và phát hiện nhiều giấy tờ của vương hầu, quan lại tư thông với quân Nguyên. Đình thần muốn mang đối chiếu để trị tội, nhưng Thượng hoàng Thánh Tông làm theo gương [[Hán Quang Vũ Đế]], cho rằng trị tội kẻ tiểu nhân cũng vô ích, rồi sai đốt hết đi.{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|pp=199-200}}{{sfn|Ngô Thì Sĩ|1991|p=84}}{{sfn|Trần Xuân Sinh|2006|p=244}} Tuy nhiên, những người thật sự đã đầu hàng Nhà Nguyên đều bị nghiêm trị. Quan lại thì bị xử tử, tịch thu tài sản hoặc bắt đi đày, còn quân dân thì được tha chết nhưng phải chịu các loại hình phạt khổ sai như ''"chở gỗ đá, xây [[cung điện]] để chuộc tội"'', hoặc phải làm lính hầu, nô tỳ cho vương hầu và [[tể tướng]].{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|pp=199-200}} Hai vua cũng bắt các vương hầu, tôn thất đã theo quân Nguyên phải bỏ họ Trần, đổi sang họ Mai. Trần Kiện tuy đã bị tướng [[Nguyễn Địa Lô]] bắn chết (1285) nhưng vẫn bị các văn kiện thời đó chép là ''Mai Kiện''. Trần Ích Tắc cũng bị loại khỏi tôn thất, nhưng hai vua coi là ''"chỗ tình thân cốt nhục"'' nên ''"không nỡ đổi họ xóa tên, chỉ gọi là Ả Trần, có ý chê hắn hèn nhát như đàn bà vậy"''.{{sfn|Ngô Sĩ Liên|1993|pp=199-200}}{{sfn|Trần Trọng Kim|1971|p=200}}