Khác biệt giữa các bản “Trung Quốc”

=== Thời Dân Quốc (1912–1949) ===
[[Tập tin:China imperialism cartoon.jpg|nhỏ|trái|Một biếm họa chính trị tại Pháp vào năm 1898, ngụ ý Trung Quốc bị phân chia giữa các đế quốc Anh, Đức, Nga, Pháp, và Nhật Bản.]]
Cuối thời [[nhà Thanh]], do sự lạc hậu về khoa học công nghệ, Trung Quốc bị các nước phương Tây (Anh, Đức, Nga, Pháp, Bồ Đào Nha) và cả Nhật Bản xâu xé lãnh thổ. Các nhà sử học Trung Quốc gọi thời kỳ này là ''[[Bách niên quốc sỉ]]'' (nỗi nhục trăm100 năm của đất nước bị làm nhục). Chế độ quân chủ chuyên chế đã tỏ ra quá già cỗi, hoàn toàn bất lực trong việc bảo vệ đất nước chống lại chủ nghĩa tư bản phương Tây. Điều này gây bất bình trong đội ngũ trí thức Trung Quốc, một bộ phận kêu gọi tiến hành cách mạng lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế của nhà Thanh, thành lập một kiểu nhà nước mới để canh tân đất nước. Năm 1911, [[cách mạng Tân Hợi]] nổ ra, hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc là [[Phổ Nghi]] buộc phải thoái vị.
 
Ngày 1 tháng 1 năm 1912, [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân Quốc]] được thành lập, [[Tôn Trung Sơn]] của [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Quốc dân đảng]] được tuyên bố là đại tổng thống lâm thời.<ref>Eileen Tamura (1997). ''China: Understanding Its Past.'' Volume 1. University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1923-3. p.146.</ref> Tuy nhiên, sau đó chức đại tổng thống được trao cho cựu đại thần của triều Thanh là [[Viên Thế Khải]], nhân vật này tuyên bố bản thân là [[Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)|hoàng đế của Trung Quốc]] vào năm 1915. Do đối diện với chỉ trích và phản đối rộng khắp trong [[quân Bắc Dương]] của mình, Viên Thế Khải buộc phải thoái vị và tái lập chế độ cộng hòa.<ref>Stephen Haw, (2006). Beijing: A Concise History. Taylor & Francis, ISBN 0-415-39906-8. p.143.</ref>