Khác biệt giữa các bản “Đứt gãy”

Thẻ: trình soạn thảo mã nguồn 2017
 
Sự căng xảy ra dần dần hoặc ngay lập tức, phụ thuộc vào [[lưu biến học]] của đá; lớp vỏ [[tính dẻo|dẻo]] dưới và lớp [[Lớp phủ (địa chất)|manti]] tích tụ sự biến dạng dần đần qua [[Sự trượt (địa chất)|sự trượt]], trong khi lớp vỏ giòn trên phản ứng bằng cách nứt – giải toả ứng suất trực tiếp – để tạo ra chuyển động dọc theo đứt gãy. Một đứt gãy ở đá dẻo có thể giải toả ngay lập tức khi độ căng quá lớn. Năng lượng được giải phóng bởi sự giải phóng độ căng trực tiếp tạo ra [[động đất]], một hiện tưởng phổ biến giữa danh dới chuyển dạng.
== Trượt, dồnnén ép, némtách giãn ==
[[File:Fault in Seppap Gorge Morocco.jpg|thumb|left|A fault in [[Morocco]]. Mặt phẳng đứt gãy là đường thẳng đứng nghiêng trái ở giữa ảnh, là mặt phẳng dọc theo các lớp đá bên trái đã trượt xuống dưới, so với các lớp ở bên phải của lỗiđứt gãy.]]
'' Trượt '' được định nghĩa là chuyển động tương đối của các đặc điểm địa chất có ở hai bên của mặt phẳng đứt gãy. Lỗi '' cảm giác trượt '' được định nghĩa là chuyển động tương đối của tảngkhối đá ở mỗi bên của lỗiđứt gãy đối với phía bên kia. <Refref> {{Harvnb | SCEC | Mô-đun giáo dục | p = 14}}. < / ref> Khi đo sự phân tách theo chiều ngang hoặc dọc, ''tách ném giãn'' của lỗiđứt gãy là thành phần thẳng đứng của sự phân tách và '' '' của lỗi là thành phần nằm ngang, như trong "Ném lên và đẩy ra ".
[[File:Microfault.jpg|thumb|right|Microfault showing a [[piercing point]] (the coin's diameter is 18 mm)]]
Vectơ trượt có thể được đánh giá một cách định tính bằng cách nghiên cứu bất kỳ sự kéo theo tầng nào, có thể được nhìn thấy ở hai bên của lỗiđứt gãy; hướng và cường độ của ném và ném chỉ có thể được đo bằng cách tìm các điểm giao nhau chung ở hai bên của lỗi (được gọi là [[điểm đâm]]). Trong thực tế, thường chỉ có thể tìm thấy hướng trượt của các lỗi và một xấp xỉ của vectơ ném và ném.
 
== Treo tường và chân tường ==