Khác biệt giữa các bản “Triết học”

n
replaced: Nxb → Nhà xuất bản, thứ 2 của → thứ hai của using AWB
n (replaced: Nxb → Nhà xuất bản, thứ 2 của → thứ hai của using AWB)
 
[[Tập tin:Karl Marx.jpg|phải|nhỏ|200px|Karl Marx]]
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một trong ba bộ phận cấu thành của [[Chủ nghĩa Marx|Chủ nghĩa Marx]]. Chủ nghĩa duy vật biện chứng do [[Karl Marx|Marx]] và [[Friedrich Engels|Engels]] sáng lập. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời vào những năm 40 thế kỉ 19 và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và tình hình xã hội phương Tây thế kỷ 19. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là triết học duy vật nhưng Marx và Engels đã tiếp thu một cách có phê phán những thành quả của triết học cổ điển Đức, nhất là phép biện chứng trong hệ thống triết học của [[Hegel]]. Tuy nhiên, [[Biện chứng|phép biện chứng]] của Hegel là phép biện chứng [[Chủ nghĩa duy tâm|duy tâm]], vì vậy, [[Karl Marx|Marx]] và [[Friedrich Engels|Engels]] đã đặt nó trên lập trường [[Chủ nghĩa duy vật|duy vật]]. Hegel xem các quy luật biện chứng là các quy luật của [[tinh thần]] để tiến đến [[tinh thần tuyệt đối]]<ref>Về khái niệm "tinh thần tuyệt đối" trong triết học Hêghen, Nguyễn Chí Hiếu, Tạp chí Triết học, số 12 (187), tháng 12 - 2006</ref> còn Marx lại xem đây là các quy luật của thế giới khách quan bên ngoài con người<ref>[https://www.britannica.com/topic/dialectical-materialism Dialectical materialism], Encyclopaedia Britannica</ref>. Theo Hegel "''Trong tính quy định riêng có của nó, phép biện chứng thực ra là bản tính riêng, đúng thật của những quy định của giác tính, của những sự vật và của cái hữu hạn nói chung. Sự phản tư thoạt đầu là sự vượt ra khỏi tính quy định bị cô lập và là một sự đặt quan hệ của tính quy định này, qua đó nó được thiết định vào trong mối quan hệ [với những tính quy định khác] nhưng vẫn được bảo tồn trong giá trị hiệu lực bị cô lập của nó. Ngược lại, phép biện chứng là việc vượt ra khỏi [một cách] nội tại, trong đó tính phiến diện và tính bị hạn chế của những quy định của giác tính tự phô bày đúng như nó trong sự thật, nghĩa là, như là sự phủ định của chúng [của những quy định này]. Mọi cái hữu hạn là cái gì tự thủ tiêu chính mình. Vì thế, cái biện chứng tạo nên linh hồn vận động của sự tiến lên của Khoa học và là nguyên tắc chỉ qua đó sự nối kết [mạch lạc] nội tại và sự tất yếu mới đi vào trong nội dung của Khoa học, cũng như chỉ trong đó mới tìm thấy được việc nâng lên khỏi cái hữu hạn một cách đúng thật, chứ không phải [đơn thuần] ngoại tại''"<ref>G.W.F.Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Bách khoa thư các khoa học triết học I- Khoa học Lôgíc, NxbNhà xuất bản. Tri thức, 2008, trang 178</ref>. Trong lời bạt của lần xuất bản thứ 2hai của quyển I bộ Tư bản Marx viết "''Theo Hegel thì quá trình tư duy, − cái quá trình mà dưới cái tên là ý niệm, ông đã biến nó thành một chủ thể độc lập, − là créateur (người sáng tạo) ra hiện thực... Theo tôi thì trái lại, ý niệm chỉ là vật chất được chuyển vào và cải biến trong đầu óc con người mà thôi''". Theo Engels "''Có lẽ hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã tự đề ra cho mình nhiệm vụ cứu phép biện chứng tự giác để đưa nó vào trong quan điểm duy vật về tự nhiên''". Engels cho rằng "''Tự nhiên là vật chứng thực cho phép biện chứng, và phải nói rằng chính khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng tỏ rằng vật chứng thực ấy vô cùng phong phú''" và "''mỗi ngày tích lũy thêm nhiều tài liệu và chứng tỏ rằng, xét đến cùng, thì trong giới tự nhiên, mọi sự việc đều xảy ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình''"<ref>Friedrich Engels. "Chống Dühring", Karl Marx và Friedrich Engels, Toàn tập, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, trang 20, trang 116, 10, 22</ref>. Engels xem phép biện chứng là "''khoa học về những quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người''"<ref>Friedrich Engels. "Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức", Karl Marx và Friedrich Engels. Toàn tập, tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, tập 21, trang 302, 276, 302</ref>. [[Triết học Marx]] là triết học [[duy vật biện chứng]]. Tuy nhiên Marx đã không bổ sung thêm điều gì vào phép biện chứng của Hegel ngoài việc coi nó là những quy luật chung của sự vận động của thế giới khách quan. Một số người phê phán [[chủ nghĩa Marx]] cho rằng chủ nghĩa [[duy vật biện chứng]] không thể giải thích được hay giải thích đúng sự vận động của thế giới, [[chủ nghĩa duy vật lịch sử]] không giải thích đúng mọi hiện tượng lịch sử. Trong [[Triết học Marx]], các quan điểm duy vật về tự nhiên và về xã hội, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng gắn bó với nhau thành một hệ thống lý luận thống nhất. Nội dung cơ bản của lý luận đó gồm:
 
* Thứ nhất, đó là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biện chứng. Theo các nguyên lý này, "''Trong thế giới không có gì khác ngoài [[Vật chất (triết học Marx-Lenin)|vật chất]] đang vận động, và vật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong [[không gian]] và [[thời gian]]''". Còn [[Ý thức (triết học Marx-Lenin)|ý thức]] chỉ là sản phẩm của bộ óc con người và là sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật, [[hiện tượng]] và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Như vậy trong quan hệ giữa [[Vật chất (triết học Marx-Lenin)|vật chất]] và [[Ý thức (triết học Marx-Lenin)|ý thức]], vật chất là cái thứ nhất, cái quyết định và tồn tại độc lập với [[Ý thức (triết học Marx-Lenin)|ý thức]], còn ý thức là cái thứ hai, cái có sau. Tuy nhiên khác với [[chủ nghĩa duy vật]] trước Marx, [[Triết học Marx]], một mặt khẳng định sự phụ thuộc vào vật chất, coi ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, mặt khác lại thừa nhận tác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất. Thông qua hoạt động của con người, ý thức có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm sự phát triển của thế giới vật chất ấy.
Các quan điểm triết học về con người, xã hội và nhà nước cũng là nền tảng của các ý thức hệ chính trị. Triết lý chính trị và kinh tế của [[Khổng Tử|Khổng Phu Tử]], [[Chanakya|Kautilya]], [[Tôn Vũ|Tôn Tử]], [[John Locke]], [[Jean-Jacques Rousseau]], [[Karl Marx]], [[John Stuart Mill]], [[Mahatma Gandhi]], [[Robert Nozick]] và [[John Rawls]] đã được dùng làm nền móng hình thành các [[triều đại]], [[chính phủ|chính quyền]] đương thời cũng như làm cơ sở biện minh cho hành động của họ. Chính vì thế nếu không có triết học thì cũng sẽ không có các ý thức hệ chính trị lẫn các nhà nước hiện đại.
 
Nghệ thuật cũng chịu ảnh hưởng của triết học. [[Mỹ học]] là cơ sở lý luận của các môn [[nghệ thuật]]. Quan niệm về cái đẹp của các nhà triết học đã tác động sâu sắc đến quan niệm thẩm mỹ của những người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.
 
Các tôn giáo đều được xây dựng trên những nền tảng triết học nhất định. Có những tôn giáo ban đầu chỉ là một trường phái triết học nhưng được người đời sau biến thành tôn giáo bằng cách thêm vào các yếu tố của tôn giáo như tín đồ, tăng lữ, giáo hội, nghi lễ, giáo quy, giáo chủ, các truyền thuyết... để trở thành tôn giáo. Phật giáo, Đạo giáo đều hình thành theo cách đó. Có những tôn giáo có nguồn gốc từ tín ngưỡng sơ khai sùng bái thần linh, linh vật, từ hệ thống thần thoại của một tộc người nào đó nhưng qua quá trình phát triển lâu dài giáo lý của chúng đều chứa đựng những quan điểm triết học về thế giới và con người. Triết học là phần cốt lõi của tôn giáo còn tôn giáo là biểu hiện mang tính thần thánh của triết học.
== Liên kết ngoài ==
* {{TĐBKVN|2067}}
 
* [http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/tudien/Lists/GiaiNghia/View_Detail.aspx?ItemID=2068 Triết học ánh sáng] trên [[Từ điển bách khoa Việt Nam]]
* [http://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=section&layout=blog&id=1&Itemid=1 Chuyên đề triết học]