Khác biệt giữa các bản “RNA vận chuyển”

Biên soạn lại có bổ sung thông tin cần thiết liên quan, xoá kiến thức sai so với hiện nay.
n
(Biên soạn lại có bổ sung thông tin cần thiết liên quan, xoá kiến thức sai so với hiện nay.)
[[Tập tin:Peptide syn.png|nhỏ|ARN vận chuyển (TRNA trong hình) đang tương tác với mARN (messengerRNA trong hình) để tổng hợp chuỗi pôlypeptit.]]
'''[[ARN]] vận chuyển''' ('''tRNA''', viết tắt của ''transfer RNA'') là một trong ba loại ARN đóng vai trò quan trọng trong việc định ra trình tự các [[nucleotide]] trên [[gen]]. ARN vận chuyển có vai trò mang [[acid amin]] tới [[ribosome]] và đóng vai trò như một [[người phiên dịch]] tham gia [[dịch mã]] trên [[ARN thông tin]] thành trình tự các [[acid]] amin trên chuỗi [[polipeptide]].
'''ARN vận chuyển''' (thường được viết tắt là '''tARN''') là một loại ARN có chức năng vận chuyển axit amin và chuyển đổi trình tự các [[nucleotide]] trên ARN thông tin (mARN) thành trình tự các axit amin trong chuỗi [[Peptide|pôlypeptit]] mà [[gen]] khuôn mẫu đã quy định.<ref>"Sinh học" - Campbell. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010.</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.3109/10409238509082541|title=Structure and Transcription of Eukaryotic tRNA Gene|last=Stephen Jefferson Sharp, Jerone Schaack, Lyan Cooley, Debroh Johnson Burke & Dieter Soil|first=|date=|website=|archive-url=|archive-date=|dead-url=|access-date=}}</ref> Trong các loại ARN đã biết (xem ở trang [[danh sách ARN]]), thì loại tARN này cùng với mARN có vai trò quan trọng nhất khi tổng hợp prôtêin cũng như khi dịch [[mã di truyền]].
 
== Lược sử nghiên cứu ==
Từ khi [[Francis Crick]] và [[James D. Watson|James Watson]] khai sinh ra [[Sinh học phân tử]] vào khoảng những năm 1950, nhất là ngay sau khi F. Crick xây dựng và công bố sơ đồ nổi tiếng : ADN → ARN → Prôtêin của luận thuyết trung tâm (central dogma), những nhà khoa học này đã dự đoán sự tồn tại của các phân tử đóng vai trò mà họ gọi là "nhân tố trung gian" trong đó có tARN.<ref>Phạm Thành Hổ: "Di truyền học", Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2000.</ref>
 
==Cấu tạo==
[[Tập tin:3d tRNA.png|nhỏ|Cấu trúc không gian của tARN (dựng trên máy tính)]]
Để đảm nhiệm vai trò trên, mỗi [[phân tử]] của ARN vận chuyển đều có một [[bộ ba đối mã]] đặc hiệu (còn được gọi là anticodone) có thể nhận ra và bắt đôi bổ sung với [[codone]] tương ứng trên ARN thông tin. Trong [[tế bào]] thường có nhiều loại ARN vận chuyển khác nhau.