Khác biệt giữa các bản “Dương cầm”

→‎Lịch sử: Nâng cấp
(→‎Đặc điểm và cấu tạo: Thêm bài cho cụm từ “dây đàn piano”)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(→‎Lịch sử: Nâng cấp)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
 
== Lịch sử ==
Cầm dương cầm biến
Những chiếc dương cầm cổ điển hay còn gọi thông thường là piano cổ điển ngày nay được xây dựng trực tiếp từ những chiếc đàn [[harpsichord|clavico clavecin]] (harpsichord) từ khoảng [[thế kỷ]] 16 và 17. Khoảng năm [[1700]], [[Bartolomeo Cristofori]] đã thử tạo ra một chiếc đàn harpsichord mà có thể biểu hiện [[âm nhạc]] một cách truyền cảm hơn, và đã tạo ra một bộ máy mà các [[búa]] gõ vào các dây, khác với đàn [[harpsichord]] là dùng quill (dụng cụ gảy đàn bằng ống lông) để gảy. Một đặc trưng lớn khác ở đàn piano thời đầu của ông là cơ cấu búa thoát, nó khiến cho búa tách rời khỏi phím một khi các nốt được đánh lên, và rồi chơi lại ở một [[vận tốc]] khác hẳn, làm thay đổi hẳn sự biểu cảm của chính các note đó. Những chiếc piano đầu tiên của Critofori vẫn còn chứa đựng rất nhiều nét giống với thiết kế của một cây đàn clavecin, còn [[âm thanh]] thì phần nhiều vẫn như thế, ngoại trừ việc là người chơi bấy giờ có thể chơi [[nhạc]] bằng việc nhấn vào bàn phím.
 
Các thiết kế của Cristofori không được biết đến mãi cho đến những năm cuối của 1700, khi các bản thiết kế piano của ông được xuất bản. Các nhà sản xuất như [[Gottfried Silbermann]] người Đức và học trò của ông là [[Christian Friederici]] và [[Johannes Zumpe]] bắt đầu phát triển piano với vai trò là một nhạc cụ độc lập với clavecin. Mặc dù lúc đầu không được ấn tượng cho lắm nhưng được J.S.Bach ủng hộ năm [[1747]]. Âm nhạc bắt đầu được viết riêng cho piano từ năm 1732 và kỷ nguyên của nó với vai trò một nhạc cụ dành cho biểu diễn bắt đầu.
 
Sự phát triển của piano cổ điển sau năm 1750 diễn ra theo hai hướng cơ bản. Ở [[Anh]], đàn piano được thiết kế nặng hơn và phức tạp hơn. Ở [[Đức]], một loại khác nhẹ hơn và cấu trúc đơn giản hơn được biết đến như một cây đàn xứ [[Vienna]], được nhà sản xuất [[Johann Andreas Stein]] xây dựng, đó chính là những cây đàn mà [[Joseph Haydn|Haydn]], [[Wolfgang Amadeus Mozart|Mozart]] và [[Ludwig van Beethoven|Beethoven]] đã chơi và soạn nhạc trên đó.
 
Khi piano cổ điển ngày càng phát triển, nó dần trở thành một [[nhạc cụ]] độc lập và cần làm cho âm thanh to hơn. Để tăng âm, các dây phải dày hơn và bộ khung phải khoẻ hơn nữa, như thế có thể đạt được một áp lực lớn hơn. Bộ khung của đàn piano thông thường được làm bằng [[gỗ]], trở nên dày hơn và nặng hơn và thanh chằng chéo giúp nó kiên cố hơn. Đến năm 1820, [[Thomas Allen]] thậm chí vẫn còn dùng các ống kim loại để giữ căng các dây, và một nhà sản xuất thành công [[người Anh]] là [[John Broadwood]] bắt đầu dùng các tấm bằng [[sắt]] để giữ cho chúng được căng lên, mà giờ đây các đĩa đó phần lớn được làm bằng [[kim loại]] hơn là bằng gỗ. Năm 1825, [[Alpheus Babcock]] sáng chế ra khung bằng [[gang]] và sau đó năm 1843, một [[người Mỹ]] là [[Jonas Chickering]] bắt đầu làm piano với một đĩa tròn vành, một nét đặc trưng của các piano cánh ngày nay. Một sự phát triển đáng chú ý khác là việc chằng các dây, được phát triển bởi [[Henri Pape]] vào năm 1828 và [[Steinway]] cấp bằng sáng chế năm 1859, ông đã đặt các dây bass dài hơn lên cao hơn các dây kim, giúp cho các dây dài hơn ở trong hộp ngắn hơn và đặt các dây bass ở giữa qua một bảng cộng hưởng [[(soundboard)]] để có một sự hồi âm tốt hơn.
 
Piano cổ điển được bắt đầu sản xuất hàng loạt vào những năm 1800, cùng với sự thành lập của các công ty lớn chuyên sản xuất đàn Piano cổ điển, những công ty này hoàn toàn phát triển từ nền tảng của mẫu đàn cánh đó tới năm 1821.
 
== Đặc điểm và cấu tạo ==