Khác biệt giữa các bản “Hưng Yên”

Khi mới tái lập tỉnh 1997 tỷ lệ dân số làm nông nghiệp rất cao, ước tính 50-55%. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ này thay đổi một cách nhanh chóng do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh hơn. Tỷ lệ dân số làm nông nghiệp năm 2008 ước tính còn 40-45%, công nghiệp 45%, dịch vụ 13%, năm 2010 công nghiệp chiếm 48,12% và đến năm 2015 công nghiệp 48,98%; năm 2018, công nghiệp, xây dựng chiếm 51,56%, thương mại, dịch vụ chiếm 37,86% tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, Năm 2018 tỉ lệ dân số làm nông nghiệp còn 10,58%. Thành phần dân số sống ở đô thị là 34,5% và nông thôn là 65,5%.
 
Tính đến ngày [[1 tháng 4]] năm [[2009]], toàn tỉnh có 5 [[tôn giáo]] khác nhau đạt 26.119 người, nhiều nhất là [[Công giáo tại Việt Nam|Công giáo]] có 15.587 người, tiếp theo là [[Phật giáo Việt Nam|Phật giáo]] có 10.454 người. Còn lại các tôn giáo khác như [[Kháng Cách|đạo Tin Lành]] có 72 người, [[Hồi giáo tại Việt Nam|Hồi giáo]] có ba người và [[Phật giáo Hòa Hảo]] chỉ có một người.<ref name="dstcdtvn">[http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=12724 Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009], Tổng cục Thống kê Việt Nam.</ref> Hiện tại (2019), Hưng Yên là một trong những địa phương có số dân theo đạo Công giáo thưa nhất miền Bắc Việt Nam với 2646.278 tín hữu, chiếm 23,7% dân số toàn tỉnh.
 
==Kinh tế ==