Khác biệt giữa các bản “Eminem”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
===2014–nay: ''Shady XV'' và ''Southpaw''===
[[File:Eminem live at D.C. 2014.jpg|thumb|Eminem biểu diễn tại Concert for Valor ở Washington, D.C. năm 2014]]
Vào [[tháng 6]] năm [[2014]] Eminem và Rosenberg sử dụng [[hashtag]] #SHADYXV trên các trang mạng xã hội, trong khi Eminem mặc chiếc áo phông với hashtag đó trên sân khấu. Theo như thông cáo báo chí ngày 25/ tháng 8 trên trang của Eminem, hashtag này là tên của album tổng hợp của hãng Shady Records: ''[[Shady XV]]''. Cùng ngày, đĩa đơn đầu tiên trong album ("[[Guts Over Fear]]", hợp tác với [[Sia Furler]])<ref>{{Chú thích web|url= http://www.billboard.com/articles/news/6229233/eminem-announces-shady-xv-compilation-with-new-track-guts-over-fear|tiêu đề=Eminem Announces 'Shady XV' Compilation With New Track 'Guts Over Fear'|nhà xuất bản=''Billboard''|tác giả 1=Gallo, Phil|ngày tháng=August 25, 2014|ngày truy cập=August 25, 2014}}</ref> được ra mắt trong khi danh sách track của album được thông báo ngày 29/ tháng 10.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=SHADYXV Tracklist Revealed|url= http://www.eminem.com/news/shadyxv-tracklist-revealed-new-merch-colorways-released|website=www.eminem.com|ngày truy cập=November 1, 2014|ref=SHADYXV Tracklist Revealed}}</ref> Shady Records cho ra một cypher (một dạng [[rap chiến]] freestyle) để quảng bá album, trong đó Eminem thực hiện một đoạn freestyle dài 7 phút. "[[Detroit Vs. Everybody]]" (đĩa đơn thứ hai từ album), với Eminem, Dej Loaf, Royce da 5'9", [[Danny Brown (rapper)|Danny Brown]], [[Big Sean]] và [[Trick-Trick]], được phát hành ngày 11/ tháng 11.<ref>{{Chú thích web|họ 1=Grow|tên 1=Kory|tiêu đề=Hear Eminem's Love Letter to His Hometown, 'Detroit Vs. Everybody'|url=http://www.rollingstone.com/music/news/hear-eminems-love-letter-to-his-hometown-detroit-vs-everybody-20141111|website=Rolling Stone|ngày truy cập=November 14, 2014}}</ref> ''Shady XV'', được phát hành ngày 24/ tháng 11 trong tuần lễ [[Thứ Sáu Đen (mua sắm)|Black Friday]],<ref>{{Chú thích web|họ 1=Rosenberg|tên 1=Paul|tiêu đề=SHADYXV out 11/24|url= https://twitter.com/rosenberg/status/504095948776435714 | nhà xuất bản=[[Twitter]]|ngày truy cập=October 21, 2014}}</ref> bao gồm một đĩa các bài đình đám nhất và một đĩa các bài hát mới của các nghệ sĩ thuộc Shady Records như [[D12]], Slaughterhouse, Bad Meets Evil và [[Yelawolf]]. Album ra ở vị trí #3 trên [[Billboard 200|''Billboard'' 200]], thu về trong tuần đầu tiên tại Hoa Kỳ 138.000 bản.<ref>{{Chú thích web|họ 1=Tardio |tên 1=Andres |url=http://www.hiphopdx.com/index/news/id.31622/title.hip-hop-album-sales-eminem-rick-ross-beyonce|tiêu đề=Hip Hop Album Sales: Eminem, Rick Ross, Beyonce |nhà xuất bản=HipHop DX |ngày tháng=December 3, 2014 |ngày truy cập=December 3, 2014}}</ref>
 
Vào ngày [[10/ tháng 6/]] năm [[2014]], anh là nghệ sĩ đầu tiên nhận hai chững nhận kim cương kĩ thuật số – doanh số và lượt stream trên 10 triệu – từ [[RIAA]] (dành cho "[[Not Afraid]]" và "[[Love the Way You Lie]]").<ref name=Billboard>{{Chú thích web|họ 1=Trakin|tên 1=Roy|tiêu đề=Eminem First to Receive Two Digital RIAA Diamond Certifications|url=http://www.billboard.com/articles/news/6114162/eminem-first-to-receive-two-riaa-digital-single-diamond-awards|website=Billboard|ngày truy cập=June 11, 2014}}</ref> Vào ngày 11 và 12, Eminem biểu diễn hai buổi tại [[Sân vận động Wembley]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.wembleystadium.com/Events/2014/Eminem/Eminem-at-Wembley|tiêu đề=eminem at Wembley|ngày truy cập=July 28, 2014}}</ref> Tại [[Giải Grammy lần thứ 57]], anh nhận giải Album Rap xuất sắc nhất cho ''The Marshall Mathers LP 2'' và [[Giải Grammy cho Hợp tác rap/hát xuất sắc nhất|Hợp tác rap/hát xuất sắc nhất]] (với [[Rihanna]]) cho "[[The Monster (bài hát)|The Monster]]".<ref>{{cite news|last1=Kennedy|first1=Gerrick D.|title=Grammys 2015: Eminem takes best rap album honors|url=http://www.latimes.com/entertainment/music/posts/la-et-ms-grammys-2015-wins-rap-album-20150205-story.html|accessdate=June 15, 2015|work=Los Angeles Times|date=February 8, 2015}}</ref><ref>{{cite news|title=Eminem takes home Best Rap Album, Best Rap/Sung Collaboration Grammys|url=http://timesofindia.indiatimes.com/entertainment/english/music/news/Eminem-takes-home-Best-Rap-Album-Best-Rap/Sung-Collaboration-Grammys/articleshow/46172812.cms|accessdate=June 15, 2015|work=The Times of India|agency=Asian News International|date=February 9, 2015}}</ref>
 
''The Official Eminem Box Set'', một bộ 10 đĩa vinyl được phát hành vào ngày 12/ tháng 3/ năm 2015. Bộ đĩa gồm 7 trong số 8 album phòng thu (trừ ''Infinite''), nhạc phim ''8 Mile'', album tông hợp ''[[Eminem Presents: The Re-Up]]'', và album tuyển tập ''Curtain Call: The Hits''.<ref>[http://www.billboard.com/articles/columns/the-juice/6501994/eminem-10-disc-career-spanning-official-vinyl-box-set Eminem Releases 10-Disc Career-Spanning Vinyl Box Set | Billboard]</ref>
 
Eminem là [[giám đốc sản xuất]] nhạc phim của bộ phim thể thao [[Southpaw (phim)|Southpaw]], cùng [[Shady Records]]. Đĩa đơn đầu tiên trong album nhạc phim có tên "[[Phenomenal (bài hát)|Phenomenal]]" được phát hành ngày 2/ tháng 6/ năm 2015.<ref>[http://www.nme.com/news/eminem/85642 Eminem to release new song on 'Southpaw' soundtrack | NME.COM]</ref> Một single nữa, "[[Kings Never Die (bài hát)|Kings Never Die]]" của Eminem hợp tác với [[Gwen Stefani]], được phát hành ngày 10/ tháng 7/ năm 2015 trên kênh [[YouTube]] của Eminem.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Eminem Kings Never Die|url=https://www.youtube.com/watch?v=7YAVn466YBc|website=Youtube|ngày truy cập=July 10, 2015}}</ref>
 
Ngày [[15 tháng 12]] năm [[2017]], Eminem chính thức ra mắt [[album phòng thu]] thứ chín mang tên "Revive".
 
Ngày [[31 tháng 8]] năm [[2018]], Eminem chính thức ra mắt [[album phòng thu]] thứ mười mang tên "Kamikaze".
 
==Các dự án khác==