Khác biệt giữa các bản “Chu Dị (nhà Lương)”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (replaced: cả 4 → cả bốn (2), có 1 người → có một người, . <ref → .<ref (29) using AWB)
n
Dị tự Ngạn Hòa, người Tiền Đường, Ngô Quận {{efn|Nay là [[Hàng Châu]], [[Chiết Giang]]}}.<ref name="L">''[[Lương thư]] quyển 38, liệt truyện 32 – Chu Dị truyện''</ref><ref name="N">''[[Nam sử]] quyển 62, liệt truyện 52 – Chu Dị truyện''</ref> Ông nội là Chu Chiêu Chi, nhờ học vấn mà nổi danh ở quê nhà. Cha là Chu Tốn Chi {{efn|Lương thư, tlđd chép là Chu Tốn; Nam sử, tlđd chép là Chu Tốn Chi}} tự Xử Lâm, có chí hướng và tiết tháo. Khi Tốn Chi còn bé, Cố Hoan gặp anh ta thì lấy làm lạ, bèn gả con gái cho Tốn Chi, sanh ra Dị.<ref name="N" />
 
Tốn Chi cùng em trai là Khiêm Chi tự Xử Quang, đều nhờ nghĩa liệt mà nổi danh.<ref name="L" /><ref name="N" /> Mẹ của Khiêm Chi mất khi anh ta mới được vài tuổi; Chu Chiêu Chi chôn tạm vợ ở bên ruộng, bị người họ hàng là Chu Ấu Phương đốt đi. Chị gái cùng mẹ bí mật đem chuyện ấy kể cho Khiêm Chi; anh ta dẫu nhỏ tuổi mà tỏ ra thương xót như đang chịu tang, đến khi trưởng thành không chịu lấy vợ. Thời [[Nam Tề Vũ đế]], Khiêm Chi đâm chết Chu Ấu Phương, rồi tự bước vào ngục. Huyện lệnh Thân Linh Úc tâu lên, Vũ đế khen nghĩa khí của Khiêm Chi, sợ anh ta bị báo thù, bèn lệnh cho Khiêm Chi theo [[Tào Hổ]] đi miền tây. Quả nhiên con trai của Chu Ấu Phương là Chu Dịch giết chết Khiêm Chi ở cửa Tân Dương. Sau đó Tốn Chi lại đâm chết Chu Dịch. Hữu tư tâu lên, Vũ đế nói: “Đây đều là việc nghĩa, không thể hỏi.” Rồi xá miễn tất cả. Người Ngô Hưng là Thẩm Nghĩ nghe được thì than rằng: “Em chết vì hiếu, anh tuẫn vì nghĩa. Khí tiết của bậc hiếu hữu, họp cả trong 1 nhà.” <ref name="N" />
 
Tốn Chi được làm đến Giang Hạ vương Tham quân,<ref name="L" /> Ngô Bình (huyện) lệnh;<ref name="L" /><ref name="N" /> trước tác Biện tương luận.<ref name="N" />
 
==Thiếu thời==
Dị được vài tuổi, được ông ngoại Cố Hoan âu yếm, nói với ông nội Chiêu Chi rằng: “Đưa nhỏ này có khí khái phi thường, sẽ lập nên môn hộ cho gia đình anh.” Nhưng Dị được hơn 10 tuổi, ưa tụ tập cờ bạc, thành ra nỗi lo lớn của xóm giềng. Đến khi trưởng thành, Dị chịu khuất mình để theo thầy học tập.<ref name="L" /><ref name="N" /> Đầu đời Lương thiết lập Ngũ quán, Dị phụng Bác sĩ [[Minh Sơn Tân]] làm thầy {{efn|Ngũ quán (五馆) là quốc học của nhà Lương. Năm Thiên Giám thứ 4 (505), triều đình giáng chiếu thiết lập Ngũ quán, giảng dạy Ngũ kinh, đặt ra chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi kinh 1 người. Vì vậy người Bình Nguyên là Minh Sơn Tân, người Ngô Quận là Lục Liễn, người Ngô Hưng là Thẩm Tuấn, người Kiến Bình là Nghiêm Thực Chi, người Hội Kê là Hạ Đãng được bổ làm Bác sĩ, đều làm chủ 1 quán. Mỗi quán có vài trăm sanh viên, được định kỳ cấp lương và tiền, nếu ai vượt qua được khoa thi Minh Kinh thì được trừ làm Lại. Thế nên người ở lưu vực Hoài – Kinh cắp tráp theo học nhiều như mây}}. Vì nhà nghèo, Dị phải chép thuê để kiếm sống, viết xong còn dành lại cho mình đọc.<ref name="N" /> Dị học khắp Ngũ kinh, hiểu rõ Lễ, Dịch, làu thông văn sử, kiềmkiêm sành tạp nghệ, các món cờ bạc tính toán (bác – dịch – thư – toán) đều là sở trường.<ref name="L" /><ref name="N" />
 
Dị được 20 tuổi, đến kinh đô, được Thượng thư lệnh [[Thẩm Ước]] đích thân khảo hạch, nhân đó đùa rằng: “Anh còn nhỏ, sao lại không liêm?” Dị ngẩn ngơ tỏ ra không hiểu, Ước bèn giải thích rằng: “Thiên hạ chỉ có văn nghĩa, kỳ thư {{efn|Văn nghĩa (文义) chỉ văn sử, kinh điển; Kỳ thư (棋书) chỉ các môn tạp học (bác – dịch – thư – toán)}}, anh một lúc đều đem đến, có thể nói là không liêm vậy.” Năm ấy, Dị dâng thư nói Kiến Khang nên đặt Ngục tư, chọn Đình úy; hoàng đế giáng sắc cho Thượng thư bàn bạc, rồi nghe theo.<ref name="L" /><ref name="N" />