Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lý Tự Thành”

 
== Cuộc đời ==
===Khởi nghĩa chống Minh===
Lý Tự Thành sinh ngày [[22 tháng 9]] năm [[1606]] tại huyện [[Mễ Chi]], tỉnh [[Thiểm Tây]]. Lý Tự Thành từ nhỏ đã đi thuê chăn cừu cho một gia đình họ Ngãi, năm 21 tuổi do đánh chết người nên phải bỏ trốn sang Ngân Xuyên. Năm [[1627]], [[Minh Tư Tông|Sùng Trinh]] lên ngôi [[hoàng đế]], triều [[nhà Minh|Minh]] mục nát, ông đang gắng sức gây dựng phục hưng cơ nghiệp thì chiến sự lại liên miên.
 
Tuy Hoàng Đế Sùng Trình thức khuya dậy sớm, cố tự sức chống giữ triều cương, nhưng trong triều đảng tranh liên tục, quân sỹ thương vong cao, đào ngũ liên miên, rồi tướng lĩnh bất tài, không hỗ trợ lẫn nhau, nên tình hình càng lúc càng khó khăn hơn. Của cải đã bị [[Minh Thần Tông]] xài hết, bao nhiêu năm tiền của kiếm được phải dành cho quốc phòng, lại những vương công và quan viên bòn rút tham nhũng, nên thế nước cứ mỗi ngày một xuống. Trong lúc đó, cả nước bị đói nghèo, đại loạn, đất Thục bị [[Trương Hiến Trung]] chiếm, Đồng Quan có Lý Tự Thành.
 
===Thành lập Đại Thuận, đánh đổ nhà Minh===
Năm 1643, Lý Tự Thành lên làm "Tân Thuận Vương", chính thức thành lập bộ máy chính quyền mới tại Tương Dương và đổi tên gọi là Tương Kinh. Tháng 10-1643, nghĩa quân Lý Tự Thành đánh chiếm được khu vực Thiểm Tây – Cam Túc ở miền Tây Bắc rộng lớn, hiểm trở xây dựng thành căn cứ kháng chiến lâu dài.
 
Quân Lý Tự Thành tràn đầy phố phường từ đầu này sang đầu khác. Vài trăm người ruổi ngựa chạy thẳng vào Tử Cấm Thành. Vì sợ hãi, dân chúng ai nấy đều bày hương án để bái vọng. Những chữ Thuận hay Thuận Thiên Vương, Vĩnh Xương nguyên niên tân quân vạn tuế… được viết dán đầy cánh cửa. Nhiều người viết hai chữ Thuận dân (bầy tôi triều Thuận) dán trên trán.Khi mới vào Bắc Kinh, Lý Tự Thành và các viên chức cao cấp cũng cố gắng quản lý binh sĩ không cho nhũng nhiễu dân chúng, nhưng một thời gian ngắn sau vì họ phải đối phó với nhiều nguy cơ khác nhau từ nhiều phía, mặt khác không dám làm mạnh sợ binh lính nổi loạn nên đành nhắm mắt làm ngơ cho thủ hạ cướp bóc.
 
Ngày 20 tháng 3 năm Giáp Thân (26 tháng 4 năm 1644) tức hôm sau ngày Lý Tự Thành vào Bắc Kinh, Sấm Vương ra thông cáo kêu gọi các quan nhà Minh đến thiết triều vào ngày 21, nếu ai muốn làm quan với triều Thuận thì làm, còn không thì cho về quê. Sáng sớm hôm sau, khoảng hơn 3.000 quan lại cũ tụ tập tại cửa Ðông Hoa nhưng bị đối đãi rất tệ hại, lùa tất cả qua cửa Thừa Thiên. Lý Tự Thành không xuất hiện và quan lại nhà Minh được lệnh tái trình diện vào ngày 23 tháng 3.
Từ Sơn Hải Quan, [[Ngô Tam Quế]] nhận lệnh cứu viện Bắc Kinh đúng 10 ngày mới xuất binh hồi kinh. Sự dùng dằng, chậm trễ này khiến cho nhiều nhà sử học hoài nghi về Ngô Tam Quế. Nhưng sự thật, có thể hiểu trong phạm vi hơn 200 dặm cách thành Bắc Kinh, Ngô Tam Quế không mấy khó khăn tiêu diệt quân phản loạn Lý Tự Thành với đội binh thiện chiến, giàu kinh nghiệm chiến đấu của mình. Nhưng nỗi lo lắng Sơn Hải Quan sẽ thất thủ làm cơ hội cho người Mãn Thanh vượt qua tiến vào Trung Nguyên một khi Ngô Tam Quế rút bớt quân, quay về Bắc Kinh cứu giá. Có lẽ đây mới là điều giải thích thỏa đáng nhất.
 
Hai hôm sau, tất cả bị tập trung cùng với một số quan lại bị Sấm Vương bắt từ trước, đứng đợi trong nhiều giờ. Mãi tới chiều tối hôm đó, Lý Tự Thành mới bước ra nghe tuyên đọc tên từng người, mỗi người một bản cáo trạng dài. Trong số hơn 3.000 người đó, quân sư Ngưu Kim Tinh chọn ra 92 người trong đó có Chu Chung (周鍾), một danh thần của nhà Minh, để phục vụ cho triều đình mới, một danh sĩ khác là Trần Danh Hạ (陳名夏) cũng được phục chức và Hàn Lâm Viện được tái lập dưới cái tên mới là Hoằng Văn Quán (弘文館). Những người còn lại được áp tải trở ra giam ở ngoài Tử Cấm Thành. Khi nhìn đám quan lại phủ phục trước mắt, Lý Tự Thành khinh miệt thành phần quan lại của Minh triều, nay lại quay sang xu nịnh chủ mới. Ông nói trắng ra rằng ''"những kẻ không dám tận trung tận hiếu với cựu triều thì mong gì có thể phục vụ tân triều hết lòng hết sức được”'' và ''"một triều đình đầy rẫy những kẻ vô liêm sỉ thế kia thì làm sao mà không loạn?”''
 
===Thất bại và cái chết===
 
Từ Sơn Hải Quan, tướng Minh là [[Ngô Tam Quế]] nhận lệnh cứu viện Bắc Kinh đúng 10 ngày mới xuất binh hồi kinh. Sự dùng dằng, chậm trễ này khiến cho nhiều nhà sử học hoài nghi về Ngô Tam Quế. Nhưng sự thật, có thể hiểu trong phạm vi hơn 200 dặm cách thành Bắc Kinh, Ngô Tam Quế không mấy khó khăn tiêu diệt quân phản loạn Lý Tự Thành với đội binh thiện chiến, giàu kinh nghiệm chiến đấu của mình. Nhưng nỗi lo lắng Sơn Hải Quan sẽ thất thủ làm cơ hội cho người Mãn Thanh vượt qua tiến vào Trung Nguyên một khi Ngô Tam Quế rút bớt quân, quay về Bắc Kinh cứu giá. Có lẽ đây mới là điều giải thích thỏa đáng nhất.
 
Lý Tự Thành đã bắt cha và gia quyến của Ngô Tam Quế để uy hiếp ông ta. Ngô Tam Quế kéo quân về Bắc Kinh cứu viện đến nửa đường thì nhận tin cấp báo: thành Bắc Kinh đã bị loạn quân Lý Tự Thành chiếm, Sùng Trinh Hoàng đế chạy đến núi Môi Sơn tuẫn tiết. Quan trọng hơn cả là ái thiếp [[Trần Viên Viên]] đã bị Lưu Tông Mẫn, một viên Tướng của Lý Tự Thành bắt giữ. Ngô Tam Quế nổi giận, liền quay về Sơn Hải Quan kết hợp với [[Đa Nhĩ Cổn]] mở cổng Sơn Hải Quan dẫn quân Mãn Thanh vào tiến đánh chiếm lĩnh thành Bắc Kinh vào Tháng 5/1644. Chính quyết định này của Ngô Tam Quế đã mở đường cho quân Mãn Thanh tiến vào Trung Nguyên lập nên triều đại Mãn Thanh thống trị Trung Quốc gần 300 năm.